Thứ Sáu, 9 tháng 12, 2016

СТАРИННЫЕ ЧАСЫ - CHIẾC ĐỒNG HỒ CỔ - “ALLA PUGACHEVA”

Bài hát “Chiếc đồng hồ cổ” sáng tác của nhạc sĩ Raimond Pauls, do ca sĩ Alla Pugacheva trình bày, là một trong những bài hát nổi tiếng được nhiều người Việt Nam biết đến. Nhưng có lẽ chưa có ai dịch sang tiếng Việt, tôi xin giới thiệu bài hát và lược dịch nội dung cho mọi người cùng hiểu.
 СТАРИННЫЕ ЧАСЫ - CHIẾC ĐỒNG HỒ CỔ “АЛЛА ПУГАЧЕВА”
Mузыкa: Паулс Раймонд - Cловa: Резник Илья -1981


Старинные часы еще идут
Старинные часы свидетели и судьи
Когда ты в дом входил они слагали гимны
Звоня тебе во все колокола
Chiếc đồng hồ cổ vẫn đang còn chạy
Như thẩm phán và nhân chứng cuộc đời tôi.
Mỗi khi anh bước chân vào cửa, rộn ràng bản tình ca
Gọi vang lên nghe réo rắt tâm hồn.
Когда ты не сумел меня понять
Я думала замрут все звуки во Вселенной
Но шли мои часы торжественно печально
Я слышала их поминальный звон
Khi anh chẳng muốn hiểu về em
Thì vũ trụ đây như đều câm lặng
Đ
ồng hồ chạy âm thầm và buồn bã,
Tiếng chuông ngân, như gợi tháng ngày xưa.

Жизнь невозможно повернуть назад.
И время ни на миг не остановишь...
Пусть неоглядна ночь и одинок мой дом,
Еще идут старинные часы.
Cuộc sống không thể quay trở lại.
Và thời gian không giây phút ngừng trôi…
Mặc cho đêm buồn cùng ngôi nhà hưu quạnh,
Đồng hồ vẫn chạy chẳng nghỉ ngơi.

Когда ты уходил такой чужой
Амуры на часах сломали лук и стрелы
Часы остановить тогда я не сумела
Как не смогла остановить тебя
Khi anh trở thành người xa lạ
Thần ái tình đã bẻ gãy cung tên
Muốn dừng lại thời gian mà em không thể
Như không ngăn được bước chân anh.

Жизнь невозможно повернуть назад.
И время ни на миг не остановишь...
Пусть неоглядна ночь и одинок мой дом,
Еще идут старинные часы.
Cuộc sống không thể quay trở lại.
Và thời gian không giây phút ngừng trôi…
Mặc cho đêm buồn cùng ngôi nhà hưu quạnh,
Đồng hồ vẫn chạy chẳng nghỉ ngơi.

Старинные часы еще идут
Старинные часы свидетели и судьи
Когда ты в дом входил они слагали гимны
Звоня тебе во все колокола
Старинные часы еще идут
Cтаринные часы еще идут
Еще идут еще идут
Chiếc đồng hồ cổ vẫn đang còn chạy
Như thẩm phán và nhân chứng cuộc đời tôi.
Mỗi khi anh bước chân vào cửa, rộn ràng bản tình ca
Gọi vang lên nghe réo rắt tâm hồn.
Chiếc đồng hồ cổ vẫn đang còn chạy
Chiếc đồng hồ cổ vẫn đang còn chạy
Vẫn còn đang chạy.

TP. Hồ Chí Minh 16.11.2009
Minh Nguyệt dịch






ПОЗДНО - MUỘN RỒI - АЛЛА ПУГАЧЁВА И ВАЛЕРИЙ ЛЕОНТЬЕВ

Bài hát MUỘN RỒI sáng tác của Kirkorov Filip- là chồng cũ của Alla Pugacheva, là một bài hát do Alla Pugacheva và Valery Leontiev thể hiện rất thành công qua nhiều thập kỷ, từ khi Alla còn rất trẻ và cho tới nay đã tuổi 60 rồi. Thật cảm kích trong ngày sinh nhật của mình Alla Pugacheva và Valery Leontiev cùng ngồi trên xe lăn ra biểu diễn.
Nói chung trên thế gian này mỗi người một hoàn cảnh, một cuộc sống khác nhau, với nhiều người may mắn tình yêu sớm đơm hoa kết trái ở tuổi xuân thì, còn với nhiều người còn chờ còn đợi, nên khi lo lắng cho sự nghiệp khi ngoảnh lại thì đã thấy muộn mất rồi…Ước vọng của mỗi người về một mái ấm gia đình là chính đáng, tuy rằng rất bình thường, nhưng nhiều khi cũng lại rất khó khăn. Dù sao muộn vẫn còn là may mắn, là hạnh phúc, còn hơn suốt cuộc đời chẳng gặp lấy một lần.


“Cho dù đã muộn em ơi,
Còn hơn suốt cả cuộc đời cô đơn!
Mình cùng xây dựng giang sơn
Những năm tháng đẹp như tiên lại về!”
  …Bao giông tố đời ta đã lặng,
Còn niềm hy vọng đã nở hoa,
Thật tốt đẹp tuy rằng có muộn
Anh với em cùng ôm chặt vòng tay!

 Chúc cho tất cả các bạn trong blog đang còn đi tìm một nửa của mình sẽ may mắn và
thành công. 
  

ПОЗДНО- MUỘN RỒI “АЛЛА ПУГАЧЁВА И ВАЛЕРИЙ ЛЕОНТЬЕВ”
Киркоров Филип

Мы встретились с тобой поздно.
Не те уже над нами звезды,
Мы усталы и серьезны,
Не скрываем грустных глаз,
Грустных глаз.
И все же хорошо, что поздно
Одна судьба связала нас.

Chúng ta gặp nhau đã muộn rồi.
Kìa bầu trời cao đã có bao vì sao,
Mình mệt mỏi và chín chắn hơn lên.
Chẳng dấu nổi đôi mắt buồn vời vợi,
Bao năm rồi như vẫn còn chờ đợi.
Dù có muộn vẫn còn là may mắn
Số phận này đã gắn kết đôi ta.

А-а, лучше поздно, чем никогда!
А-а, лучше поздно, чем никогда!
Быть может, нам с тобой достались
Лучшие года, да-да, да-да!

Cho dù đã muộn em ơi,
Còn hơn suốt cả cuộc đời cô đơn!
Mình cùng xây dựng giang sơn
Những năm tháng đẹp như tiên lại về!

Поздно,
Дожди рекою стали поздно,
Давно вернулись стаи в гнезда,
Нам с тобой совсем непросто,
От былого не уйти,
Не уйти.
И даже хорошо, что поздно
Мы встретились с тобой в пути.

 

Mưa chảy thành sông đã muộn rồi,
Từng bầy chim trở về xây tổ ấm,
Anh với em đâu phải dễ dàng gì,
Vượt quá khứ chớ hề lùi bước.
Vẫn còn tốt cho dù có muộn
Anh cùng em đã chung một con đường.

Поздно,
Теперь нам расставаться поздно.
Молвы глухой бояться поздно,
Отгремели наши грозы,
И надежда расцвела,
Расцвела.
И очень хорошо, что поздно
В твоей руке - моя рука!

 

Giờ chia tay cũng đã muộn rồi.
Lời nguyện thầm e rằng đã muộn,
Bao giông tố đời ta đã lặng,
Còn niềm hy vọng đã nở hoa,
Thật tốt đẹp tuy rằng có muộn
Anh với em cùng ôm chặt vòng tay!


TP. Hồ Chí Minh 02.03.2010
Minh Nguyệt dịch  

 

   Alla Pugacheva và Valery Leontiev khi còn trẻ.

 


 

Thứ Ba, 6 tháng 12, 2016

ДИАЛОГ У НОВОГОДНЕЙ ЁЛКИ- TÂM TÌNH BÊN CÂY THÔNG NÔEL


Bài hát “TÂM TÌNH BÊN CÂY THÔNG NÔEL” được trình diễn vào dịp năm mới rất vui nhộn do ca sĩ Valentina Tolkunova cùng Leonid Serebrenikov trình bày, được bình chọn là bài hát của năm 1980, đã lâu lắm rồi. Cho đến nay bài hát này vẫn còn được nhiều ca sĩ thể hiện nhân dịp đầu năm mới.

ДИАЛОГ У НОВОГОДНЕЙ ЁЛКИ- TÂM TÌNH BÊN CÂY THÔNG NÔEL ВАЛЕНТИНА ТОЛКУНОВА-ЛЕОНИД СЕРЕБРЕННИКОВ

Музыка: Эдуард Колмановский - Слова: Юрий Левитанский

- Что происходит на свете? - А просто зима.
- Просто зима, полагаете вы? - Полагаю.
Я ведь и сам, как умею, следы пролагаю
Я ведь и сам, как умею, следы пролагаю
В ваши уснувшие ранней порою дома.
-
Điều gì đang xảy ra trên thế gian này? Chỉ là một mùa đông.
- Chỉ là một mùa đông, anh nghĩ như thế sao? - Anh nghĩ thế.
Chính anh biết làm và tạo ra những dấu vết
Chính anh biết làm và tạo ra những dấu vết
Vào những mái nhà đôi khi ngủ sớm của em.
- Что же за всем этим будет? - А будет январь.
- Будет январь, вы считаете? - Да, я считаю.
Я ведь давно эту белую книгу читаю,
Я ведь давно эту белую книгу читаю,
Этот, с картинками вьюги, старинный букварь.
-
Sau tất cả những điều này điều gì sẽ đến? - Sẽ là tháng giêng.
- Sẽ là tháng giêng, anh nghĩ vậy sao? - Đúng, anh nghĩ vậy.
Chính tôi đã từ lâu đọc cuốn sách trắng này,
Chính tôi đã từ lâu đọc cuốn sách trắng này,
Có những bức tranh bão tuyết, với chữ cái cổ xưa.

- Чем же всё это окончится? - Будет апрель.
- Будет апрель, вы уверены? - Да, я уверен.
Я уже слышал. - И слух этот вами проверен?
- Я уже слышал, и слух этот мною проверен,
Будто бы в роще сегодня звенела свирель.
-
Tất cả những điều đó khi nào kết thúc?- Sẽ là tháng tư.
- Sẽ là tháng tư, anh chắc chắn vậy sao? - Đúng, anh tin vậy.
Anh đã nghe thấy. - Lời nói này anh trải nghiệm rồi sao?
- Anh đã nghe thấy. - Lời nói này đã được anh trải nghiệm,
Cứ ngỡ hôm nay trong rừng có tiếng sáo véo von.

- Что же из этого следует? - Следует жить!
Шить сарафаны и лёгкие платья из ситца.
- Вы полагаете, всё это будет носиться?
Вы полагаете, всё это будет носиться?
- Я полагаю, что всё это следует шить!

- Và như vậy cần phải làm gì nhỉ? - Cần phải sống!
Cần may chiếc áo dài và váy mỏng bằng vải in hoa.
- Anh có cho rằng, mọi thứ đó sẽ mặc được hay chăng?
Anh có cho rằng, mọi thứ đó sẽ mặc được hay chăng?
- Anh nghĩ rằng tất cả mọi thứ cần phải đem may hết!

Следует шить, ибо сколько зиме ни кружить,
Недолговечны её кабала и опала.
Так разрешите же в честь новогоднего бала
Так разрешите же в честь новогоднего бала
Руку на танец, сударыня, вам предложить.
Cần phải may, vì mùa đông luôn bị bao quanh,
Bởi ách nô dịch và bỏ rơi ngắn ngủi.
Hãy cho phép chào mừng vũ hội năm mới
Hãy cho phép chào mừng vũ hội năm mới
Xin phép mời quý bà chìa tay ra khiêu vũ.

- Месяц серебряный шар со свечою внутри,
И карнавальные маски по кругу, по кругу.
Вальс начинается. - Дайте ж, сударыня, руку.
Вальс начинается. Дайте ж, сударыня, руку.
+ И раз-два-три, раз-два-три, раз-два-три, раз-два-три!
Раз-два-три, раз-два-три, раз-два-три, раз-два-три!
Раз-два-три, раз-два-три, раз-два-три, раз-два-три!

- Trăng như trái cầu bạc có ngọn nến bên trong,
Những mặt nạ hoá trang nhảy theo vòng tròn.
Điệu vals đã bắt đầu rồi.

 Xin quý bà hãy đưa tay.
Điệu vals đã bắt đầu rồi. Xin quý bà hãy đưa tay.
+ Và rồi một- hai- ba, một- hai- ba, một- hai- ba!
Một- hai- ba, một- hai- ba, một- hai- ba!
Một- hai- ba, một- hai- ba, một- hai- ba!

TP. Hồ Chí Minh 26.05.2011
Minh Nguyệt dịch