Hữu
Loan - tác giả những câu thơ như "Nàng có ba người anh đi bộ đội /
Những em nàng / Có em chưa biết nói / Khi tóc nàng xanh xanh" - trút hơi
thở cuối cùng tối 18/3, hưởng thọ 95 tuổi.
Tang
lễ nhà thơ Hữu Loan sẽ diễn ra vào lúc 15h chiều 19/3. Ông được đưa về
nơi an nghỉ cuối cùng tại nghĩa trang xã Nga Lĩnh, Nga Sơn, Thanh Hóa -
nơi nhà thơ sinh ra và gần như gắn bó cả cuộc đời nhọc nhằn của mình ở
đó. Sáng nay, nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam - đã dẫn
đầu đoàn Hội Nhà văn lên đường vào xứ Thanh tiễn đưa tác giả Màu tím hoa sim.
Vì sao có bài thơ "Mầu tím hoa sim"? Hữu
Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan, sinh năm 1916 tại thôn Vân Hoàn, xã
Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Nhà nghèo nhưng chăm học nên
ông đỗ được bằng tú tài 1, sau đi dạy ở các trường tư thục để mưu sinh. Ông tham gia cách mạng từ năm 1936, sau được điều lên làm Uỷ viên văn hoá trong Uỷ ban lâm thời tỉnh Thanh Hóa.
Từ
những ngày đầu kháng chiến, ông phụ trách tờ báo chiến sĩ của Quân khu
4. Năm 1954 tiếp quản thủ đô, ông được mời ra làm trong ban biên tập văn
nghệ. Bài thơ "Màu tím hoa sim" được Hữu Loan viết năm 1949. Bài thơ
tuy chỉ kể chuyện riêng của một người mà hình ảnh và mỹ cảm lại thoát
ra khỏi "cái tôi" để đến với nhiều người, tạo nên sự đồng cảm sâu xa,
chan hoà trong thế giới tâm linh huyền diệu. Vào khoảng năm
1937-1938, cậu học trò Hữu Loan rời quê lên tỉnh, học tại trường trung
học ở thị xã Thanh Hóa. Tại đây, Hữu Loan làm gia sư tại nhà ông Lê đỗ
Kỳ, Tổng thanh tra nông lâm Đông Dương, về sau là đại biểu Quốc hội khóa
đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Vợ ông Kỳ, bà Đới Thị Ngọc
Chất, rất thương yêu Hữu Loan nên nhận làm con nuôi. Còn cô học trò nhỏ
Lê Đỗ Thị Ninh lúc đó mới 8 tuổi, kém thầy chừng 13-14 tuổi, rất mến
thầy và luôn quấn quít bên thầy. Họ sống êm đềm như thế cho đến khi cô
Ninh lớn lên và yêu thầy lúc nào không biết. Năm 1941 Hữu Loan
lên Hà Nội thi đỗ bán phần tú tài rồi trở về Thanh Hóa dạy hoc. Năm
1947, trong buổi meeting khai mạc "Tuần lể vàng", Hữu Loan đọc một bài
diễn văn hùng hồn kêu gọi lòng yêu nườc và hy sinh của toàn dân, cô Ninh
từ trong hàng ngũ bước ra tháo bỏ vòng xuyến để quyên góp cho chính
phủ. Sau đó Hữu Loan nhập ngũ, phụ trách báo chiến sĩ và vẫn đươc
coi như con cái trong nhà ông Kỳ, bà Chất, thỉnh thoảng vẫn đi về thăm
cha mẹ nuôi và "em nuôi". Thế rồi tình yêu của Loan đối với cô Ninh chợt
đến lúc nào không hay và cha mẹ cô Ninh cũng vun vén vào cho đôi trẻ.
Ngày 6-2-1948 một đám cưới đơn giản giữa anh chàng Vệ quốc quân và cô
"em nuôi" được tổ chức trong sự vui mừng và tình thân yêu của gia đình
và bè bạn: Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới, Tôi mặc đồ quân nhân.
Hữu Loan không chung sống với vợ mới được lâu bởi còn phải lo nhiệm vụ của người lính: "Tôi ở đơn vị về Cưới nhau xong là đi." Bà
Ngọc Chất-mẹ vợ của Hữu Loan-có biệt nhãn đối với ông. Theo Hữu Loan
thì thoạt đầu bà muốn gả em gái mình cho Loan, nhưng cô này say đạo,
chẳng nghĩ gì đến việc trần duyên nên xin vào tu viện và ở luôn tại đấy.
Về sau, khi cô Lê Đỗ Thị Ninh lớn lên, bà nhất quyết gả cô Ninh cho
Loan mặc dù cô này có nhiều người ngấp nghé. Bạn bè, chị em của bà thắc
mắc: -Không biết sao bà quý thằng Loan thế? Bà đáp: Tôi quý nó vì nó có nhân cách. Hữu Loan cũng quý trong mẹ vợ, xem bà như mẹ đẻ của mình và đối với bà như đứa con trai hiếu thảo. Ngày
29-5-1948, khi đang là Trưởng ban tuyên huấn của Sư đoàn 304 đóng ở Thọ
Xuân, Thanh Hoá, Hữu Loan bỗng được tin sét đánh: Cô Lê Đỗ Thị Ninh đã
chết! (1).Nhà thơ Vũ Cao kể:"Tôi còn nhớ cái buổi cách đây đã hơn 40 năm
(2), ngồi trong một quán nhỏ ở Thanh Hóa, anh (Hữu Loan) báo cho tôi
biết cái tin đột ngột: Ninh vừa mất. Bàn tay anh cầm cốc nước run lên
bần bật, nước bắn tung toé xuống bàn, mặt anh tái xanh. Và mãi sau này, ở
Việt Bắc, tôi mới được nghe: "Ba người anh Từ chiến trường Đông Bắc Biết tin em gái mất trước tin em lấy chồng." Câu thơ thật như cuộc đời có thật. Không có gì chữ nghĩa cả mà xúc động biết bao.
Cái
tin sét đánh ấy khiến Nguyễn Hữu Loan tan nát cõi lòng. Nỗi đau dồn nén
ấy sang năm sau -1949- thì chín muồi để bật thành lời, thành một bài
thơ bất tử. Bài thơ chỉ viết xong trong hai tiếng đồng hồ vào một
buổi trưa vắng, không phải sửa chữa gì. Tuy nhiên lúc bấy giờ chiến sự
đang ác liệt, chuyện riêng tư đành xếp lại bên lòng. Bài thơ được Hữu
Loan cất mãi trong túi áo, cho đến một hôm, Vũ Tiến Đức, biên tập cũ của
Hữu Loan, tình cờ lấy được, đem đọc cho bè bạn, cho bà Ngọc Chất nghe,
thế là bài thơ được phổ biến nhanh chóng. Về sau Nguyễn Bính đem bài thơ
ấy đăng lên báo Trăm Hoa ở Hà Nội (1956) mà tác giả không hề hay biết.
Bài thơ gây xúc động mạnh vì những lời tình tự của Hữu Loan, những lời tình tự chân thành, không làm dáng, không tô vẽ: "Từ chiến khu xa Nhớ về ái ngại Lấy chồng đời chiến chinh Mấy người đi trở lại Nhỡ khi mình không về Thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê." Nhưng ngưòi lính không chết mà chết cô gái nhỏ ở hậu phương, lúc Hữu Loan về thì chỉ còn ngôi mộ: "Tôi về Không gặp nàng Mẹ tôi ngồi bên mộ con Đầy bóng tối Chiếc bình hoa ngày cưới Thành bình hương tàn lạnh vây quanh " Cái
hình ảnh "chiếc bình hoa" biến thành "bình hương" mà "bình hương tàn
lạnh vây quanh" tạo cho người đọc một cảm giác rờn rợn. Và một bóng
người cô đơn vây bọc bởi bóng tối, một người đàn bà ngồi bên mộ con im
lặmg trong nỗi đau xé ruột, không còn nước mắt để khóc, không thốt nên
lời.
Rồi tác giả thở than: "Em ơi giây phút cuối Không được nghe nhau nói Không được trông nhau một lần" Cưới
nhau mới ba tháng, sống với nhau có mấy ngày, thế mà đến lúc vĩnh biệt
không được thấy mặt nhau lần cuối, hỏi còn có cái đau nào hơn?
Rồi
những mùa thu qua, những mùa thu qua với "gió sớm thu về rờn rợn nước
sông" hay"gió sớm thu về cỏ vàng chân mộ chí" tạo những hình ảnh thật
buồn, cộng với nỗi cô đơn của người nằm dưới mộ khiến ai đọc đến mà
chẳng xót xa?! Ôm nỗi đau thầm lặng, tác giả cùng đồng đội hành quân
qua những đồi sim trong buổi chiều hiu quạnh, những đồi sim bạt ngàn màu
tím - cái màu mà thuở sinh tiền nàng yêu thích - những đồi sim chạy dài
tưởng chừng không bao giờ hết trong chiều hoang biền biệt như nỗi
thương nhớ khôn nguôi, như niềm đau bất tận.
Bài thơ đứng được trong lòng người là nhờ tính chân thật của nó và cũng nhờ lối diễn đạt tài hoa của tác giả.
(1) Theo Trần Tuấn Kiệt (trong cuốn "Thi ca Việt Nam hiện đại" thì cô Ninh chết đuối. (2) Bài viết của Vũ Cao năm 1990.
MẦU TÍM HOA SIM Thơ Hữu Loan- (Khóc Lê Đỗ Thị Ninh)
Nàng có ba người anhđi bộ đội Những em nàng Có em chưa biết nói Khi tóc nàng xanh xanh Tôi người Vệ quốc quân Xa gia đình Yêu nàng Như tình yêu em gái Ngày hợp hôn Nàng không đòi May áo cưới Tôi mặc đồ quân nhân Đôi giày đinhbết bùn đất hành quân Nàng cười xinh xinh Bên anh chàng độc đáo Tôi ở đơn vị về cưới nhau xong là đi Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại Lấy chồng đời chiến binh mấy người đi trở lại Nhỡ khi mình không về thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê Nhưng không chết người trai khói lửa mà chếtngười gái nhỏ hậu phương Tôi về không gặp nàng Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối Chiếc bình hoa ngày cưới thành bình hương tàn lạnh vây quanh Tóc nàng xanh xanh ngắn chưa đầy búi Em ơigiây phút cuối khôngđượcnghenhaunói Không được trông nhau một lần Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím Áo nàng mầu tím hoa sim Ngày xưa đèn khuya bóng nhỏ nàng vá cho chồngtấm áo ngày xưa! Một chiều rừng mưaba người anh từ chiến trường Đông Bắc biết tin em gái mất trước tin em lấy chồng Gió sớm thu về rờn rợn nước sông Đứa em nhỏ lớn lên ngỡ ngàng nhìn ảnh chị Khi gió sớm thu về cỏ vàng chân mộ chí Chiều hành quân qua những đồi hoa sim những đồi hoa sim những đồi hoa sim dài trong chiều không hết Màu tím hoa simtím chiều hoangbiền biệt Nhìn áo rách vai tôi hát trong màu hoa: "Áo anh sứt chỉ đường tà Vợ anh mất sớm, Mẹ già chưa khâu..."
Lại
nói thêm về nhà thơ Hữu Loan, trong thời gian đất nước ta chưa thống
nhất, khi miền Bắc còn đang trong thời kỳ bao cấp, hàng hoá lưu thông
còn chưa ổn định. Tại các cửa hàng bách hoá có bán các mặt hàng nhu yếu
phẩm như mắm muối, dầu hoả, đường,... nhưng trong đó có hộp diêm "Thống
nhất" mà miền Nam còn gọi là hộp quẹt được bán với các giá khác nhau
trong các quán tạp hoá vỉa hè. Lúc đó Hữu Loan có viết: "Diêm "thống nhất" mà không thống nhất
Chỗ bán năm xu, chỗ bán một hào."
Khi đó các cán bộ xã bắt ông phải làm bản kiểm điểm nói xấu chế độ và hứa sẽ không tái phạm.
Những ngày tháng ngồi học tiếng Ba
lan ở trường đại học ngoại ngữ Hà nội khoá 1978-1979. Năm đó chúng tôi là những
người lính, mới thi vào đại học tuổi mới đôi mươi còn hăng say ngày đêm học tiếng. Thế nhưng mùa hè năm đó trong một lần về
thăm nhà, bố tôi vào Tổng cục chính trị xin chuyển cho đi Liên xô, và thế là tôi
xa tiếng Ba lan từ đó. Xin gửi tới tất cả những ai đã từng học tiếng Ba lan khoá
1978 -1979 tại Thanh xuân và tất cả bạn bè đã từng yêu thích bài thơ này.
EM ƠI …BA
LAN MÙA TUYẾT TAN - TỐ HỮU
Em ơi, Ba Lan mùa tuyết
tan
Đường bạch dương sương trắng nắng tràn
Anh đi, nghe tiếng người xưa vọng
Một giọng thơ ngâm, một giọng đàn
Có phải Sô-panh tình chứa chan
Nâng đàn ca Cô gái Ba Lan
Có phải A-đam hồn vĩ đại
Bay trên đầu thế kỷ nhân gian...
Em đi cùng anh lên thành xưa
Vác-xa-va ấm nắng ban trưa
Nét vàng lịch sử vừa tươi lại
Trong cuộc hồi sinh, tạnh gió mưa
Hãy nghe em từng viên đá lát
Những con đường, tiếng hát đau thương
Ba Lan, Ba Lan
Thịt da đã bao lần tan nát
Nước mất, tim về vọng cố hương
Hãy nghe em từng viên ngói đỏ
Những mái nhà phố cũ hồi xuân
Máu đã quyện, em ơi, trong đó
Máu Ba Lan và máu Hồng quân!
Ôi máu đọng mười lăm năm trước
Bốn triệu hồn kêu Nước trong đêm
Em ơi em, làm sao quên được
Ốt-sơ-ven-xim, Ốt-sơ-ven-xim!
Nhớ nghe em, những đôi giày nhỏ
Tưởng còn đi chập chững chân son
Những mái tóc vàng tơ đóng bó
Dệt thành chăn rợn bóng oan hồn!
Anh đã đến quê em Cra-cốp
Như quê anh lộng lẫy cung đền
Hồng quân cứu Va-ven xinh đẹp
Như Thạch Sanh đánh ó cứu nàng tiên...
Anh đã đến quê em Ban-tích
Sóng ngời xanh, ngọc bích biển khơi
Đã xóa sạch những ngày Đăng-dích
Màu Ba Lan trong trắng đỏ tươi
Khắp quê em, mùa xuân đến rồi
- Dù đêm qua chút tuyết còn rơi
- Hỡi người chị bên đường quét tuyết
Xuân đến rồi, nắng đỏ trên môi.
Nắng trên cao cần trục xây nhà
Nắng lưng tàu phấp phới đi xa
Nắng đỏ ngực anh, người thủy thủ
Đẹp như lò Nô-va Hu-ta
Khắp quê em, mùa xuân mang tên
Những người con đẹp của trăm miền
Hôm nay gọi nhau về Đại hội
Mở thêm đường, đi lên, đi lên
Mùa xuân đó, quê em ấm áp
Chân người đi, vào cuộc đời chung
Ngựa đang kéo đồng lên hợp tác
Đường ta đi tấp nập vô cùng!
Em ơi, Ba Lan mùa tuyết tan
Đường bạch dương sương trắng nắng tràn
Anh đi, nghe tiếng đàn xuân ấy
Ca ngàn năm: Ba Lan, Ba Lan...
Có một bài thơ Xuân khá hay được phổ biến nhưng không rõ ai là tác giả, có điều đọc xuôi, đọc ngược đều được, bớt 2, 3, 4 chữ ở đầu hay cuối đọc vẫn thành thơ. Tôi đã post từ năm 2007, bây giờ đã là Tết Quý Tỵ 2013 rồi tôi xin post lại, mời các bạn cùng thưởng thức cho vui nhé.
CẢNH
XUÂN 1. Bài thơ gốc
(bài 1):
Ta mến cảnh xuân ánh sáng ngời
Thú vui thơ rượu chén đầy vơi
Hoa cài giậu trúc cành xanh biếc
Lá quyện hương xuân sắc thắm tươi
Qua lại khách chờ sông lặng sóng
Ngược xuôi thuyền đợi bến đông người
Xa ngân tiếng hát đàn trầm bổng
Tha thướt bóng ai mắt mỉm cười.
2. Đọc ngược bài gốc từ dưới lên, ta được bài 2: Cười mỉm mắt ai bóng thướt tha
Bổng trầm đàn hát tiếng ngân xa
Người đông bến đợi thuyền xuôi ngược
Sóng lặng sông chờ khách lại qua
Tươi thắm sắc xuân hương quyện lá
Biếc xanh cành trúc giậu cài hoa
Vơi đầy chén rượu thơ vui thú
Ngời sáng ánh xuân cảnh mến ta.
3. Bỏ hai chữ đầu
mỗi câu trong bài gốc, ta được bài 3
(ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng): Cảnh xuân ánh sáng ngời
Thơ rượu chén đầy vơi
Giậu trúc cành xanh biếc
Hương xuân sắc thắm tươi
Khách chờ sông lặng sóng
Thuyền đợi bến đông người
Tiếng hát đàn trầm bổng
Bóng ai mắt mỉm cười.
4. Bỏ hai chữ
cuối mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên, ta được bài 4 (ngũ ngôn bát
cú, luật bằng vần bằng): Mắt ai bóng thướt tha
Đàn hát tiếng ngân xa
Bến đợi thuyền xuôi ngược
Sông chờ khách lại qua
Sắc xuân hương quyện lá
Cành trúc giậu cài hoa
Chén rượu thơ vui thú
Ánh xuân cảnh mến ta.
5. Bỏ ba chữ cuối
mỗi câu trong bài gốc, ta được bài 5
(tám câu x bốn chữ): Ta mến cảnh xuân
Thú vui thơ rượu
Hoa cài giậu trúc
Lá quyện hương xuân
Qua lại khách chờ
Ngược xuôi thuyền đợi
Xa ngân tiếng hát
Tha thướt bóng ai.
6. Bỏ ba chữ đầu
mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên, ta được bài 6 (tám câu x bốn
chữ): Cười mỉm mắt ai
Bổng trầm đàn hát
Người đông bến đợi
Sóng lặng sông chờ
Tươi thắm sắc xuân
Biếc xanh cành trúc
Vơi đầy chén rượu
Ngời sáng ánh xuân.
7. Bỏ bốn chữ đầu
mỗi câu trong bài gốc, ta được bài 7 (tám câu x ba chữ): Ánh sáng ngời
Chén đầy vơi
Cành xanh biếc
Sắc thắm tươi
Sông lặng sóng
Bến đông người
Đàn trầm bổng
Mắt mỉm cười.
8. Bỏ bốn chữ
cuối mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên, ta được bài 8 (tám câu x ba
chữ): Bóng thướt tha
Tiếng ngân xa
Thuyền xuôi ngược
Khách lại qua
Hương quyện lá
Giậu cài hoa
Thơ vui thú
Cảnh mến ta.
Nối tiếp phong trào
Offline đang lên cao của Hanoi's members, các mems Saigon đã tổ chức buổi
offline lần 1 vào lúc 11g30 ngày
14/07/2012 tại quán cafe Bros, 213 Nguyễn Văn Thủ, phường Đa Kao, Quận 1, tp.
Hồ Chí Minh.
Đây là dịp để các anh,
chị, em, bạn bè... những người đã gửi lại một thời
thanh niên sôi nổi ở nước Nga và các nước thuộc Cộng hòa Liên bang Xô Viết gặp
mặt thân mật để cùng ôn lại các kỷ niệm xưa, cùng vui vẻ hát hò với nhau, cùng
nâng ly và thưởng thức các món ẩm thực Nga.
Buổi
họp mặt diễn ra rất sôi động chưa từng có, khi mọi người tập trung đông đủ là
phần giới thiệu một chút về bản thân, như trường lớp, thành phố ngày xưa từng
học tập, sau này công tác hay kinh doanh ở đâu, một chút về gia đình. Vui nhất
là các bạn từ Hà nội vào chả ai nhớ ngày nào mình sang Nga, quay sang hỏi bạn,
tớ sang năm nào nhỉ, nếu bạn không nhớ chắc phải hỏi bố bạn…
Sau
phần giới thiệu cá nhân xong bước vào nâng ly chúc sức khỏe gặp mặt, thưởng
thức những món ăn Nga như salat trộn, salo(mỡ muối), giò hun khói, cá khô
vovla, rượu vodka Putinka, món mì vằn thắn Nga, váng sữa smetana được sản xuất
tại Nga và đương nhiên món bánh mì đen là không thiếu trong bữa ăn. Ngoài ra
trong khi ăn còn thêm các gia vị theo kiểu Nga như hành sống cắt lát mỏng, thì
là sống thái nhỏ rắc vào salat trộn. Món nào thấy cũng rất hấp dẫn cả.
Sau
những lần nâng ly chúc tụng nhau là bắt đầu bước vào chương trình ca hát. Các
bạn chọn những bài hát yêu thích, cùng hát. Trong đó có các bạn Võ Nguyên
Chương và Nguyễn Dương Anh là hai hạt
giống chính của bữa tiệc, các bạn hát được rất nhiều bài hát từ cổ lẫn kim mà
không cần nhìn màn hình. Sau đó là hai ca sĩ đến từ nhạc viện TP. Hồ Chí Minh
hát những bài truyền thống với phong cách nghệ sĩ thực thụ.
Với
những bài hát vui nhộn, tất cả hội cùng tham gia khiêu vũ. Hầu hết các thành
viên ở TP. Hồ Chí Minh đều tham gia hát, còn các bạn đến từ Hà nội chắc đi thám
thính tình hình để rút kinh nghiệm cho buổi tổ chức của Hà nội sôi động hơn. Trong
thời gian dự tiệc mọi người vừa hát, vừa chụp hình, vừa nâng ly và thưởng thức
các món ăn Nga cùng ôn lại những kỷ niệm xưa đi học ở phương trời Tây. Còn mấy
anh bạn trai thì nhớ lại những ngày đi trả thù dân tộc.
Buổi
gặp mặt kéo dài từ 11h30 tới 17h00 thì kết thúc vì có bạn Mai Phan còn phải về
Vũng Tàu, các bạn khác bay về Hà nội. Có lẽ lần đầu tiên kể từ ngày về nước tới
giờ tôi mới có dịp tham dự buổi họp mặt ấn tượng như thế. Tôi xin chân thành
cám ơn Ban
quản trị Hội những người thich nghe nhạc Nga và hát tiếng Nga, đã tổ chức cho chúng
tôi buổi gặp mặt đầu tiên cho các thành viên ở phía Nam quá chu đáo. Hy vọng
trong thời gian tới sẽ có thêm nhiều cuộc gặp mặt sống động và thêm nhiều thành
viên khác tham gia.