Thứ Bảy, 3 tháng 8, 2013

ВАЛЬС ВЛЮБЛЁННЫХ – VALS CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐANG YÊU “ВАЛЕНТИНА ТОЛКУНОВА, ЛЕВ ЛЕЩЕНКО”



Các bạn thân mến, trong tiếng Nga từ “влюбленый” có nghĩa là yêu đương, phải lòng, có tình cảm, ở đây tôi dịch là đang yêu. Đúng như tâm trạng của những người khi mới yêu, đều bồn chồn và hay nghĩ tới người mình yêu. Đôi khi vì nhớ tới người yêu làm cho con người ta si mê quên hết những việc khác cần phải làm, cho nên người ta bảo rằng những người đang yêu và những người say rượu chẳng có thể giấu được ai. Bài hát này được ca sĩ Valentina Tolkunova trình bày lần đầu tiên vào năm 1974 và đến năm 1981 khi trình bày cùng ca sĩ Lev Leshenko lời bài hát có sửa một vài câu.


ВАЛЬС ВЛЮБЛЁННЫХ – VALS CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐANG YÊU “ВАЛЕНТИНА ТОЛКУНОВА, ЛЕВ ЛЕЩЕНКО”
Музыка Л. Лядовой- слова П. Градова- Из фильма-концерта "Мелодии Людмилы Лядовой". 1981 г.

Забрался в окно рассвет, и мерцая лампочки свет.
Сегодня, как вчера, мне не до сна.
И снова он виноват, его задумчивый взгляд...
А может быть, может быть я влюблена!
Bình minh trèo vào ô cửa ổ, và ánh sáng làm lấp lánh các bóng đèn.
Hôm nay cũng giống ngày hôm qua, em chẳng thể nào ngủ được.
Và anh ấy lại là người có lỗi, chính cái nhìn trầm ngâm của anh…
Mà có thể, có thể em đã phải lòng anh mất rồi!

Её напротив окно, всю ночь светилось оно,
И снова падал снег на мой балкон.
Её я вижу во окне, и вдруг подумалось мне:
Я может быть, может быть тоже влюблён!
Cửa sổ nhà nàng ở đối diện, cả đêm qua ánh sáng chói lòa,
Và tuyết cũng lại vừa rơi xuống dưới ban công nhà anh.
Anh nhìn thấy em bên cửa sổ, và đột nhiên anh thiết nghĩ rằng:
Mà có thể, có thể anh đã phải lòng rồi!

Звонить друг другу не лень, и он звонит целый день,
Хотя мы друг другу хорошо видны.
И ни пойму почему, вес день я звоню ему...
А может быть, может быть мы влюблены!
Không lười biếng gọi điện cho nhau, và anh cầm máy gọi cả ngày,
Cho dù chúng ta nhìn thấy nhau rất rõ.
Và em cũng chẳng hiểu vì sao, suốt cả ngày tôi đã gọi cho anh…
Mà có thể, có thể chúng mình đã yêu nhau mất rồi!

Мы тихо песню поём, когда проходим вдвоём
По шумным светлым улицам Москвы.
И столько ласковых глаз, с улыбкой смотрят на нас...
А может быть, может быть всe влюблены.
Chúng mình khẽ hát một bài ca, khi cả hai cùng bước chung đôi
Trên đường phố Matxcơva náo nhiệt tươi vui.
Và biết bao đôi mắt dịu dàng, mỉm cười ngắm nhìn chúng ta…
Mà có thể, có thể tất cả mọi người cũng đang yêu!

А может быть, может быть все влюблены...
А может быть, может быть все влюблены!
Mà có thể, có thể tất cả mọi người cũng đang yêu!
Mà có thể, có thể tất cả mọi người cũng đang yêu!

TP. Hồ Chí Minh 03.08.2013
Minh Nguyệt dịch.





Thứ Năm, 1 tháng 8, 2013

ЭМИГРАНТСКИЙ ВАЛЬС! VALS CỦA NGƯỜI XA XỨ “КОНСТАНТИН


Các bạn thân mến, từ hơn 30 năm về trước tôi đã được nghe nhiều bài hát Nga và Ukraina của những người đang sống ở Mỹ và Canada trình bày. Nếu trong tiếng Nga có từ “Эмигранты”- được dịch là “người di cư”, hay “kiều dân”. Những người vì lý do chính trị bị gọi là “lưu vong”. Cái thời sinh viên của chúng tôi do chính phủ tài trợ cho đi du học, nếu ai học xong không về cũng bị gọi là “lưu vong”.
Từ khi Liên Xô và hệ thống các nước XHCN tan giã, có nhiều người từ Việt Nam di cư đi khắp nơi trên thế giới làm ăn sinh sống tự do, miễn có tiền để đi và hy vọng lo được cuộc sống của mình và gia đình sung sướng hơn, thì được gọi là “Việt kiều” trìu mến.
Gọi là Việt kiều hay dân di cư nghe nó cũng vậy thôi, tôi dùng từ “người xa xứ” hy vọng phù hợp với tâm trạng của tất cả những ai ra nước ngoài sinh sống, lòng buồn thương mỗi khi nhớ tới quê nhà.
Bài hát do ca sĩ Константин Дерр trình bày, xin giới thiệu cùng các bạn.


ЭМИГРАНТСКИЙ ВАЛЬС! VALS CỦA NGƯỜI XA XỨ “КОНСТАНТИН ДЕРР”

Почему, почему сердце полнится грустью?
Почему я смотрю с тайной завистью вслед облакам?
Я шепчу: Проплывите над милою Русью,
Передайте привет мой моим землякам.
Tại sao con tim chứa chất đầy nỗi buồn thương?
Vì sao tôi nhìn theo những đám mây với nỗi ghen tỵ lặng thầm?
Tôi khẽ nhủ: Hãy bay qua nước Nga yêu dấu,
Chuyển lời chào của tôi tới những người đồng hương.

Припев:
А за окнами ветер последние листья срывает,
Им уже, как и нам, не вернуться назад
Осень вальс эмишрантов для нас в тишине исполняет,
Эмигранты друзья мои, вальс этот только для вас!
Gió ở ngoài hiên đang bứt những chiếc lá cuối cùng,
Những chiếc lá ấy như chúng ta, chẳng còn quay lại nữa
Mùa thu vals của những người xa xứ đang khẽ hát cho chúng ta,
Những người bạn xa xứ của tôi ơi, vals này chỉ dành cho các bạn thôi!

2. Я уехал сюда, но мосты за собой не сжигаю.
Моё сердце и душу предать я никак не могу.
Почему в моей жизни случилось такое, не знаю.
В этом я обвиняю лишь только злодейку- судьбу.
Tôi đến nơi này, nhưng không đốt những cây cầu ở phía sau.
Tôi không thể nào phản bội trái tim và cả tâm hồn.
Vì sao trong đời mình xảy ra như thế, tôi đâu biết.
Trong chuyện này tôi chỉ biết đổ lỗi cho số phận tàn nhẫn mà thôi.

3. И берёз подвенечные белые платья мне снятся.
Снятся в пламени алом рябины за нашим окном.
От себя не уйти и не стоит, наверно, стараться.
Потому что Россию мы Родиной с детства зовём.
Tôi lại mơ thấy chiếc áo cưới trắng khoác trên mình bạch dương.
Mơ thấy thanh lương trà màu lửa đỏ rực ở ngoài hiên.
Chẳng thể nào đứng vững hay rời xa, có lẽ đang gắng sức.
Bởi vì nước Nga từ thuở ấu thơ chúng tôi gọi là Quê hương.

TP. Hồ Chí Minh 01.08.2013
Minh Nguyệt dịch.






Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

ВСЕ В ТВОИХ РУКАХ – TẤT CẢ TRONG TAY ANH “АНЖЕЛИКА ВАРУМ И ЛЕОНИД АГУТИН”



Một bài hát rất tình cảm do ca sĩ Анжелика ВарумЛеонид Агутин trình bày với tựa đề “ВСЕ В ТВОИХ РУКАХ – TẤT CẢ TRONG TAY ANH”. Tất cả mọi thứ trong tay anh rồi, chỉ có anh nhút nhát mà thôi. Buổi chiều lãng mạn đang bồng bềnh trôi ngoài cửa sổ, chỉ có anh và em trong căn phòng bé nhỏ. Hãy gần lại mái đầu, hãy ghé sát đôi môi và cùng em khiêu vũ đi anh…Con trai ở đâu mà nhát thế nhỉ, sao lại phải để người con gái chủ động như thế. Hãy mạnh dạn lên, nếu không chỉ có mà ế vợ mất thôi.
ВСЕ В ТВОИХ РУКАХ – TẤT CẢ TRONG TAY ANH “АНЖЕЛИКА ВАРУМ И ЛЕОНИД АГУТИН”


Капелькой дождя упал
На твои ладони этот день.
Ты меня повсюду ждал
И бродил за мною словно тень.
Прячешь ты глаза словно
Робостью навек, скован.
Сделай первый шаг,
Будь же посмелей со мной
Cơn mưa nhỏ giọt thành giọt
Vào lòng bàn tay anh hôm ấy.
Anh đợi em ở khắp mọi nơi
Lang thang theo em như cái bóng.
Anh giấu đôi mắt cứ ngỡ như
Bị ngượng ngùng suốt đời vì nhút nhát.
Anh hãy thực hiện bước đi đầu tiên,
Hãy mạnh dạn lên cùng với em
Припев:
Послушай, все в твоих руках
Все в твоих руках, все в твоих руках.
Ты знаешь, все в твоих руках,
Все в твоих руках и даже я.

Hãy nghe anh, mọi thứ trong bàn tay anh
Tất cả mọi thứ ở trong bàn tay của anh.
Biết chăng anh, mọi thứ ở trong bàn tay anh,
Mọi thứ ở trong bàn tay anh ngay cả em đây.
Вечер за окном плывет,
Я закрыла двери, ты со мной.
Тает между нами лед,
Но еще не верю, что ты мой.
Губы и глаза ближе
И стучат сердца, слышишь.
Сделай первый шаг,
Будь же посмелей со мной.
Buổi tối bồng bềnh trôi ngoài cửa sổ,
Em đóng cửa phòng chỉ có em và anh.
Tuyết lạnh tan chảy giữa chúng mình,
Nhưng em chưa tin, anh là của em.
Đôi mắt và bờ môi càng gần thêm
Hai trái tim gõ nhịp, anh nghe thấy chăng.
Anh hãy thực hiện bước đi đầu tiên,
Hãy mạnh dạn lên cùng với em
Послушай, все в твоих руках
Все в твоих руках, все в твоих руках.
Ты знаешь, все в твоих руках,
Все в твоих руках и даже я.
Hãy nghe anh, mọi thứ trong bàn tay anh
Tất cả mọi thứ ở trong bàn tay của anh.
Biết chăng anh, mọi thứ ở trong bàn tay anh,
Mọi thứ ở trong bàn tay anh ngay cả em đây.
Послушай, все в твоих руках
Все в твоих руках, все в твоих руках.
Ты знаешь, все в твоих руках,
Все в твоих руках и даже я.
Hãy nghe anh, mọi thứ trong bàn tay anh
Tất cả mọi thứ ở trong bàn tay của anh.
Biết chăng anh, mọi thứ ở trong bàn tay anh,
Mọi thứ ở trong bàn tay anh ngay cả em đây.
И даже я... ngay cả em đây.
И даже я... ngay cả em đây.
И даже я... ngay cả em đây.

TP. Hồ Chí Minh 31.07.2013
Minh Nguyệt dịch.

Thứ Ba, 30 tháng 7, 2013

ЗВЕЗДА МОИХ ПОЛЕЙ- NGÔI SAO NHỮNG CÁNH ĐỒNG CỦA TÔI “ПЕСНЯРЫ”


Tình cờ nghe được bài hát rất hay “ЗВЕЗДА МОИХ ПОЛЕЙ- NGÔI SAO NHỮNG CÁNH ĐỒNG CỦA TÔI” ca ngợi quê hương đất nước xin được giới thiệu cùng các bạn.

ЗВЕЗДА МОИХ ПОЛЕЙ- NGÔI SAO NHỮNG CÁNH ĐỒNG CỦA TÔI “ПЕСНЯРЫ”
Музыка: Н.Богословский - Слова: Л.Давидович, В.Драгунский

Легла роса, спустился вечер синий.
Доносит ветер через ширь лугов -
И свежий запах скошенной полыни,
И эхо дальнее девичьих голосов...
Sương vừa rơi xuống, chiều xanh dần buông.
Ngọn gió mang qua cánh đồng cỏ bao la-
Hương tươi mát của ngải cứu vừa mới cắt,
Và giọng các thiếu nữ vang vọng từ nơi xa …

Легла роса, спустился вечер синий.
А надо мной сияет, как всегда,
Звезда моих полей, звезда моей России -
Страны единственной прекрасная звезда!
Sương vừa rơi xuống, chiều xanh dần buông.
Trên mình tôi vẫn luôn tỏa sáng như mọi ngày,
Ngôi sao những cánh đồng của tôi- ngôi sao nước Nga của tôi-
Ngôi sao tuyệt vời chỉ của một đất nước thôi!

И в день, когда нашёл я на чужбине
Простой букетик полевых цветов -
Я вспомнил запах скошенной полыни,
И эхо дальнее девичьих голосов.
Và một ngày, khi tôi tìm thấy trên vùng đất lạ
Một bó giản đơn những bông hoa đồng nội-
Tôi nhớ lại mùi hương ngải vừa mới cắt,
Và giọng các thiếu nữ vang vọng từ nơi xa …

И где б меня сраженья не носили,
В душе моей со мной была всегда
Звезда моих полей, звезда моей России -
Страны единственной прекрасная звезда!
Ở bất kỳ nơi nào tôi tham gia chiến đấu
Trong tâm hồn tôi vẫn luôn đọng mãi
Ngôi sao những cánh đồng của tôi- ngôi sao nước Nga của tôi-
Ngôi sao tuyệt vời chỉ của một đất nước thôi!

TP. Hồ Chí Minh 30.07.2013
Minh Nguyệt dịch.





Thứ Hai, 29 tháng 7, 2013

КРЕЙСЕР ВАРЯГ- TÀU TUẦN DƯƠNG VARYAG


VARYAG là tên con tàu tuần dương huyền thoại của hải quân Nga trong cuộc thủy chiến với hải quân Nhật năm 1904. Chiến công của tàu tuần dương Varyag đã mãi mãi đi vào lịch sử cuộc chiến tranh Nga- Nhật cùng với chỉ huy V.F. Rudnev.
Chiến đấu trong trận chiến không cân sức với hải quân Nhật Bản và không chịu hạ cờ đầu hàng trước kẻ thù, những người thủy thủ Nga đã đánh chìm con tàu, khi mất hết khả năng tiếp tục chiến đấu, nhưng quyết không đầu hàng quân giặc. Tàu tuần dương Varyag được coi là một trong những tàu tốt nhất của hải quân Nga lúc bấy giờ. Được đóng tại nhà máy của Mỹ tại Filadenfia, hạ thủy vào năm 1899 và được bổ sung cho lực lượng hải quân Nga vào năm 1901.
Đó là con tàu có bốn ống khói và hai cột buồm, boong tàu được bọc thép là tàu tuần dương cấp 1 với lượng giãn nước 6500 tấn.
Hỏa lực chính gồm 12 khẩu pháo 152mm(6 inch). Ngoài ra trên tàu còn có 12 khẩu pháo 75mm, 8 khẩu pháo bắn nhanh 47mm và 2 khẩu 37 mm. Ngoài ra tàu còn có 6 hệ thống phóng ngư lôi. Tàu có thể đạt tốc độ 23 hải lý/ giờ. Nhưng tàu Varyag có một loạt nhược điểm nghiêm trọng: sử dụng các nồi hơi rất phức tạp, vận tốc thực của tàu thấp hơn nhiều so với vận tốc thiết kế. Không có những tấm chắn để bảo vệ các khẩu pháo, tránh bị đạn của đối phương bắn vào, những hiếm khuyết này dễ dàng nhận thấy trong khi vận hành cũng như khi giao chiến.
Thủy thủ đoàn gồm 550 thủy thủ, hạ sĩ quan chiến sĩ và 20 sĩ quan chỉ huy.
Tàu Varyag được Nhật trục vớt vào năm 1905, dùng làm tàu huấn luyện cho các học viên hải quân và hiện nay dùng làm viện bảo tàng.
Chính tàu sân bay được bán cho Trung Quốc, khi đóng và hạ thủy tại nhà máy đóng tàu Biển Đen, Nikolaiev, Ukraina vào năm 1986, khi hạ thỷ lấy tên là RIGA và được biên chế vào hạm đội Biển Đen của hải quân Liên Xô. Vào năm 1991 khi Liên Xô tan giã, hạm đội Biển Đen chia lại tài sản cho Ukraina và bàn giao tàu RIGA. Ukraina đổi tên thành tàu VARYAG để lấy lại tên tàu huyền thoại ngày xưa đã chìm trong trận thủy chiến với hải quân Nhật năm 1904.
Năm 1946 các nhà làm phim Xô viết đã dựng bộ phim ca ngợi về con tàu Varyag huyền thoại

КРЕЙСЕР ВАРЯГ- TÀU TUẦN DƯƠNG VARYAG
Музыка: А.С. Турищев Слова: Рудольф Грейнц, пер. Е.Студенская
из к/ф Крейсер "Варяг" 1946


Наверх вы, товарищи,
все по местам!
Последний парад наступает...
Врагу не сдается наш гордый "Варяг",
Пощады никто не желает.
Hãy bước lên boong nào các đồng chí ơi,
Tất cả chúng ta vào vị trí!
Cuộc diễu binh cuối cùng đã bắt đầu…
"Varyag" kiêu hãnh của ta không đầu hàng giặc,
Không một ai lại muốn khoan dung.
Все вымпелы вьются, и цепи гремят,
Наверх якоря поднимают,
Готовьтеся к бою, орудия в ряд,
На солнце зловеще сверкают.
Tất cả cờ hiệu bay phấp phới, xích sắt vang rền,
Các neo tàu đang được kéo lên,
Hãy sẵn sàng chiến đấu, đại bác dàn hàng,
Mắt sáng ngời nhìn mặt trời hung dữ.
И с пристани верной
мы в битву пойдем,
Навстречу грядущей нам смерти.
За родину в море открытом умрем,
Где ждут желтолицые черти.
Và từ nơi bến tàu vững chắc
Chúng ta cùng bước vào trận đánh,
Hướng về cái chết cận kề với chúng ta.
Vì Tổ quốc, ta hy sinh giữa biển khơi,
Nơi có quỷ mặt vàng đang chờ đợi.
Свистит и гремит,
и грохочет кругом
Гром пушек, шипенье снарядов.
И стал наш бесстрашный "Варяг"
Подобен кромешному аду.
Tiếng réo rắt và nổ vang rền,
Và xung quanh ầm ầm dữ dội
Đại bác rền vang, trái pháo rít liên hồi.
Và “Varyag” của chúng ta trở nên can đảm
Giống hệt như địa ngục trần gian.
В предсмертных мученьях
трепещут тела,
Гром пушек, дым и стенанья,
И судно охвачено морем огня,
Настала минута прощанья.
Trong nỗi khổ đau lúc hấp hối
Những thân thể rạo rực bồi hồi
Đại bác rền vang, khói và tiếng rên rỉ,
Và con tàu bị bao trùm cả biển lửa,
Giây phút chia ly đã đến rồi.
Прощайте, товарищи, с Богом, ура!
Кипящее море под нами.
Не думали мы еще с вами вчера,
Что нынче умрем под волнами.
Các đồng chí, nào vĩnh biệt với Trời, xung phong!
Biển đang sục sôi trên đầu chúng ta.
Ngày hôm qua chúng ta còn chưa nghĩ đến,
Rằng giờ đây chúng ta sẽ chết dưới sóng biển khơi.
Не скажет ни камень, ни крест,
где легли
Во славу мы русского флота.
Лишь волны морские
прославят вовек
Геройскую гибель "Варяга".
Không một hòn đá hay thánh giá có thể nói,
Nơi nào chúng ta sẽ nằm đây
Chúng ta vì vinh quang của Hải quân Nga
Chỉ có những con sóng của biển khơi
Sẽ ngợi ca ngàn đời
Cái chết anh hùng của “Varyag”.

TP. Hồ Chí Minh 29.07.2013
Minh Nguyệt dịch.