Thứ Bảy, 20 tháng 7, 2013

НЕ ПЕЧАЛЯСЬ- ĐỪNG BUỒN “ХАЛИД ДЖЕММА”


Gần đây tôi đã giới thiệu với các bạn giọng ca của ca sĩ người Matxcơva với cái tên chẳng Nga chút nào đó là nữ ca sĩ Халид Джемма. Tên của cô được lấy từ tên của một nhân vật nữ trong cuốn tiểu thuyết do tổ tiên trao cho, cái tên rất ngộ nghĩnh của người du mục: Халид. Cuối tuần vui vẻ các bạn nhé, bài hát “НЕ ПЕЧАЛЯСЬ- ĐỪNG BUỒN” do ca sĩ Халид Джемма trình bày xin giới thiệu cùng các bạn.


НЕ ПЕЧАЛЯСЬ- ĐỪNG BUỒN “ХАЛИД ДЖЕММА”

Ах, как много гостиниц на свете,
День за днём провожая года
Жить могла я, в гостиницах этих,
И не встретить тебя никогда
И сейчас мне было не трудно
Вспомнить праздничный город в огнях
Если б только с тобой на секунду
Разминулась в стеклянных дверях
Ôi có biết bao khách sạn trên thế gian,
Ngày qua ngày tiễn đưa những năm
Em có thể sống trong những khách sạn ấy,
Và chẳng bao giờ gặp lại anh nữa đâu
Và giờ đây em cũng chẳng mấy khó khăn
Nhớ lại thành phố ngày hội trong ánh đèn
Nếu như được cùng anh chỉ một giây thôi
Đi ngang qua trong những cánh cửa thủy tinh

И не печалясь, я жила бы, не печалясь
Не тосковала в тишине полночных улиц
Но повстречались мы с тобой, но повстречались
Не разминулись мы с тобой, не разминулись
Đâu có buồn, em sẽ sống, chẳng hề buồn đâu
Không nhớ nhung trong tĩnh lặng phố phường lúc nửa đêm
Nhưng anh và em lại được gặp nhau
Anh với em không tránh mặt nhau

Я привыкла, я всё понимаю
Только сердце не хочет понять
И во сне пустоту обнимаю
И в слезах просыпаюсь опять
Отгоревшего праздника эхо
Все звучит в тишине ледяной
А ведь мог ты сюда не приехать
А ведь мог разминуться со мной
Em đã quen rồi, em hiểu mọi điều
Chỉ có trái tim chẳng muốn hiểu thôi
Và trong giấc mơ em ôm thinh không
Rồi lại tỉnh giấc đầm đìa nước mắt
Tiếng vọng vang của ngày nghỉ đã tàn
Vẫn cứ ngân trong tĩnh lặng giá băng
Nhưng anh có thể đừng đến nơi này nữa
Nhưng cũng có thể đi ngang qua mặt em

 И не печалясь, я жила бы, не печалясь
Не тосковала в тишине полночных улиц
Но повстречались мы с тобой, но повстречались
Не разминулись мы с тобой, не разминулись
Đâu có buồn, em sẽ sống, chẳng hề buồn đâu
Không nhớ nhung trong tĩnh lặng phố phường lúc nửa đêm
Nhưng anh và em lại được gặp nhau
Anh với em không tránh mặt nhau

Проигрыш.

И не печалясь, я жила бы, не печалясь
Не тосковала в тишине полночных улиц
Но повстречались мы с тобой, но повстречались
Не разминулись мы с тобой, не разминулись
Đâu có buồn, em sẽ sống, chẳng hề buồn đâu
Không nhớ nhung trong tĩnh lặng phố phường lúc nửa đêm
Nhưng anh và em lại được gặp nhau
Anh với em không tránh mặt nhau

TP. Hồ Chí Minh 20.07.2013
Minh Nguyệt dịch.


КРАСНО СОЛНЫШКО- THÁI DƯƠNG ĐỎ THẮM “ЛЮДМИЛА ЗЫКИНА”


Một bài hát về nước Nga “КРАСНО СОЛНЫШКО” do cố nghệ sĩ nhân dân Liên Xô Ludmila Zưkina trình bày, tô đậm thêm những hình ảnh sinh động trong câu chuyện cổ tích về của nước Nga xứ sở bạch dương: “Сестрица Алёнушка и братец Иванушка”.

КРАСНО СОЛНЫШКО- THÁI DƯƠNG ĐỎ THẮM “ЛЮДМИЛА ЗЫКИНА”
Mузыка: Аедоницкий П.- словa: Шаферан И

Умывает красно солнышко
Руки тёплые в росе.
И Россия, как Алёнушка,
Предстаёт во всей красе.
Thái dương đỏ thắm rửa mặt
Bàn tay ấm nồng trong sương.
Và nước Nga như Alenka
Hiện ra trong sắc đẹp tuyệt trần.
Ни вблизи, ни вдали
Я не знаю земли
Лучше той, что меня растила.
Синих рек рукава,
В небе синь-синева,
И светла от берёз Россия.
Khắp những vùng ở quanh đây
Tôi chưa thấy miền đất nào
Tốt hơn nơi đã nuôi dạy tôi nên người.
Có những dòng sông xanh biếc,
Trôi giữa bầu trời thiên thanh,
Nước Nga sáng ngời nơi xứ sở bạch dương.
У неё коса пшеничная,
Родниковые глаза.
И поляны земляничные
Щедро дарят ей леса.
Trên nàng sóng lúa vàng rực,
Mắt trong như suối đầu nguồn.
Và những cánh đồng dâu bát ngát
Những cánh rừng trù phú ban cho.
Ни вблизи, ни вдали
Я не знаю земли
Лучше той, что меня растила.
Синих рек рукава,
В небе синь-синева,
И светла от берёз Россия.
Khắp những vùng ở quanh đây
Tôi chưa thấy miền đất nào
Tốt hơn nơi đã nuôi dạy tôi nên người.
Kìa những dòng sông xanh biếc,
Trôi giữa bầu trời thiên thanh,
Nước Nga sáng ngời nơi xứ sở bạch dương.
А случись дорога длинная -
Загрущу в чужом краю,
Вспомню небо журавлиное,
Песню русскую спою.
Và một chặng đường dài đã qua-
Tôi thấy buồn rầu trên miền đất lạ,
Nhớ đến bầu trời đầy chim sếu,
Tôi khẽ hát bài ca về nước Nga.
Ни вблизи, ни вдали
Я не знаю земли
Лучше той, что меня растила.
Синих рек рукава,
В небе синь-синева,
И светла от берёз Россия.
Khắp những vùng ở quanh đây
Tôi chưa thấy miền đất nào
Tốt hơn nơi đã nuôi dạy tôi nên người.
Có những dòng sông xanh biếc,
Trôi giữa bầu trời thiên thanh,
Nước Nga sáng ngời nơi xứ sở bạch dương.
Синих рек рукава,
В небе синь-синева,
И светла от берёз Россия.
Có những dòng sông xanh biếc,
Trôi giữa bầu trời thiên thanh,
Nước Nga sáng ngời nơi xứ sở bạch dương.
TP. Hồ Chí Minh 20.07.2013
Minh Nguyệt dịch.

Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2013

КОГДА ВЕСНА ПРИДЕТ - KHI MÙA XUÂN ĐẾN “НИКОЛАЙ РЫБНИКОВ”


 
Một bài hát rất tình cảm, chắc nhiều bạn đã từng nghe thời sinh viên. Kỷ niệm về đường phố từng sống và lớn lên, rồi chính tại nơi đây gặp gỡ người yêu của mình, chắc với những ai hay sống với hoài niệm chẳng thể nào quên được cả đường phố với con người…

КОГДА ВЕСНА ПРИДЕТ - KHI MÙA XUÂN ĐẾN “НИКОЛАЙ РЫБНИКОВ”
В фильме “Весна на Заречной улице” (1956).

Когда весна пpидет, не знаю.
Пpойдyт дожди... Сойдyт снега...
Hо ты мне, yлица pодная,
И в непогодy доpога.
Khi mùa xuân đến, tôi chẳng biết đâu.
Những trận mưa qua…Tuyết rồi cũng hết…
Nhưng người với ta, đường phố thân quen,
Vẫn quý giá biết bao cả lúc thời tiết xấu.
На этой улице подростком
Гонял по крышам голубей,
И здесь, на этом перекрестке,
С любовью встретился своей.
Trên đường phố này lúc thời niên thiếu
Thường xua đuổi chim câu trên mái nhà,
Và ở đây tại nơi giao lộ này,
Tôi gặp được tình yêu của mình.
Теперь и сам не рад, что встретил,
Моя душа полна тобой.
Зачем, зачем на белом свете
Есть безответная любовь!
Giờ đây chính tôi chẳng vui vì đã được gặp,
Tâm hồn tôi chan chứa mình em thôi.
Cớ sao ở trên thế gian này
Lại có cả tình yêu đơn phương!
Когда на улице Заречной
В домах погашены огни,
Горят мартеновские печи,
И день и ночь горят они.
Khi đường phố Bên kia sông
Khắp mọi nhà ánh đèn đã tắt,
Những lò luyện thép vẫn rực đỏ,
Cháy sáng cả ngày lẫn đêm.
Я не хочу судьбу иную,
Мне ни на что не променять
Ту заводскую проходную,
Что в люди вывела меня.
Tôi không muốn số phận khác đâu,
Chẳng việc gì mà tôi phải đổi thay
Cái cổng bước vào nhà máy này
Mà số phận đã giúp tôi nên người
На свете много улиц славных,
Но не сменяю адрес я.
В моей судьбе ты стала главной,
Родная улица моя.
Nhiều đường phố nổi tiếng trên thế gian,
Nhưng tôi không thay đổi địa chỉ đâu.
Em là phần chủ chốt trong số phận đời tôi,
Hỡi đường phố thân yêu của ta.


TP. Hồ Chí Minh 19.07.2013
Minh Nguyệt dịch.

Thứ Năm, 18 tháng 7, 2013

НЕ СЫПЬ МНЕ СОЛЬ НА РАНУ- ĐỪNG RẮC MUỐI LÊN VẾT THƯƠNG CỦA ANH “ВЯЧЕСЛАВ ДОБРЫНИН”


Bài hát có tên cũng hay hay “ĐỪNG RẮC MUỐI LÊN VẾT THƯƠNG CỦA ANH”. Khi tình yêu tan vỡ, quan niệm của mỗi người đó chính là vết thương trong trái tim trong tâm hồn. Có thể thời gian nguôi ngoai, vết thương đó sẽ lành, nhưng biết đâu vì những tác nhân không mong muốn lại càng làm cho vết thương chẳng bao giờ lành và càng thêm đau đớn. Quá khứ đau buồn đã trôi qua, hãy để cho quá khứ ngủ yên, đừng nên đánh thức làm chi nữa phải không các bạn.


НЕ СЫПЬ МНЕ СОЛЬ НА РАНУ- ĐỪNG RẮC MUỐI LÊN VẾT THƯƠNG CỦA ANH “ВЯЧЕСЛАВ ДОБРЫНИН”
Музыка: Вячеслав Добрынин. Слова: Симон Осиашвили

Ну почему меня не лечит время,
Ведь столько дней прошло с той черной ночи,
Когда захлопнув дверь ушла ты в темень,
А рана заживать никак не хочет.
Зачем звонить, когда почти уснули
Воспоминанья о минувшей боли.
Мы календарь с тобой перевернули,
Так дай мне право жить своей судьбою.
Sao thời gian chẳng chữa lành cho tôi,
Dù ngần ấy ngày trôi qua kể từ đêm đen tối đó,
Khi em đóng sầm cánh cửa bước vào trong đêm,
Còn vết thương lại chẳng muốn lên da non.
Gọi để làm chi khi hầu như đã ngủ yên
Những ký ức về nỗi đớn đau đã qua.
Anh cùng em lật ngược lại những trang lịch ấy,
Nào hãy cho anh quyền sống bằng số phận của mình.

Не сыпь мне соль на рану,
Не говори навзрыд,
Не сыпь мне соль на рану,
Она еще болит.
Vết thương lòng xin em đừng rắc muối,
Đừng thổn thức thế nữa nhé em,
Vết thương lòng xin em đừng rắc muối,
Vì vết thương ấy đang còn đớn đau.

Когда-нибудь еще раз позвонишь ты,
И я, чтоб мы с тобою стали квиты,
Тебе отвечу: "Знаешь, третий лишний",
Быть может полоснув по ране бритвой.
Зачем звонить когда почти уснули
Воспоминанья о минувшей боли,
Мы календарь с тобой перевернули,
Так дай мне право жить своей судьбою.
Một ngày nào đó em sẽ gọi thêm lần nữa,
Và để cho chúng mình được hòa với nhau,
Anh trả lời em: “Em biết đấy, người thứ ba là thừa”,
Có thể rạch lưỡi dao lam lên vết thương.
Gọi để làm chi khi hầu như đã ngủ yên
Những ký ức về nỗi đớn đau đã qua.
Anh cùng em lật ngược lại những trang lịch ấy,
Nào hãy cho anh quyền sống bằng số phận của mình.

Не сыпь мне соль на рану,
Не говори навзрыд,
Не сыпь мне соль на рану,
Она еще болит.
Vết thương lòng xin em đừng rắc muối,
Đừng thổn thức thế nữa nhé em,
Vết thương lòng xin em đừng rắc muối,
Vì vết thương ấy đang còn đớn đau.

TP. Hồ Chí Minh 18.07.2013
Minh Nguyệt dịch.


ЧЁРНЫЙ ВОРОН- QUẠ ĐEN “АЛЕКСАНДР МАРШАЛ И НАДЕЖДА БАБКИНА”


 
Một bài hát dân ca Kozak “ЧЁРНЫЙ ВОРОН- QUẠ ĐEN” lần đầu được phát trong phim “Chapaev” vào năm 1934, được rất nhiều ca sĩ trình bày với nhiều biến tấu khác nhau, nhưng tôi xin giới thiệu với các bạn bài hát có lời tương đối nguyên vẹn chưa chỉnh sửa. Bài hát nói về về cuộc sống khó khăn của một chiến binh và cuộc đấu tranh của ông với cái chết, trong đó có hình ảnh của một con quạ đen. Bài hát do ca sĩ MarshalNadezda Babkina trình bày xin giới thiệu cùng các bạn.

ЧЁРНЫЙ ВОРОН- QUẠ ĐEN “АЛЕКСАНДР МАРШАЛ И НАДЕЖДА БАБКИНА”
Cлова Николая Верёвкина- Kазачья народная песня


Черный ворон, черный ворон,
Что ты вьешься надо мной?
Ты добычи не дождешься,
Черный ворон, я не твой!
Hỡi quạ đen, quạ đen kia ơi,
Sao ngươi lượn bay trên đầu ta thế?
Mày sẽ chẳng đợi được miếng mồi đâu,
Này quạ đen ơi, ta đâu phải của ngươi!
Что ты когти распускаешь
Над моею головой?
Иль добычу себе чаешь,
Черный ворон, я не твой!
Sao mày lại thả nanh vuốt xuống
Ngay ở trên đầu của ta thế kia?
Hay mày hy vọng mồi ngon cho mình,
Này quạ đen ơi, ta đâu phải của ngươi!
Завяжу смертельну рану
Подаренным мне платком,
А потом с тобой я стану
Говорить все об одном.
Ta sẽ băng vết thương nguy kịch
Bằng chiếc khăn đã tặng cho ta,
Và sau đó ta sẽ cùng với ngươi
Chỉ nói về một chuyện này thôi.
Полети в мою сторонку,
Скажи маменьке моей,
Ты скажи моей любезной,
Что за Родину я пал.
Hãy bay về quê hương của ta,
Và nói với mẹ yêu của ta,
Nói cả với người yêu ta nhé,
Ta đã ngã xuống vì Tổ quốc.
Отнеси платок кровавый
Милой любушке моей.
Ты скажи – она свободна,
Я женился на другой.
Hãy mang chiếc khăn đẫm máu đào
Cho thiếu nữ mến yêu của ta.
Hãy nói rằng- nàng được tự do,
Vì ta đã cưới người khác rồi.
Взял невесту тиху-скромну
В чистом поле под кустом,
Обвенчальна была сваха –
Сабля вострая моя.
Đã lấy cô dâu hiền lành giản dị
Trong đồng hoang dưới một bụi cây,
Người thiếu phụ làm lễ se duyên-
Là thanh kiếm hộ vệ của ta.
Калена стрела венчала
Среди битвы роковой.
Вижу смерть моя приходит –
Черный ворон, весь я твой!
Mũi tên hiểm độc đã kết hôn
Ngay ở giữa trận chiến định mệnh.
Ta thấy cái chết của mình đi qua-
Quạ đen ơi, chính ta là của ngươi !

TP. Hồ Chí Minh 17.07.2013
Minh Nguyệt dịch.