Thứ Ba, 25 tháng 12, 2012

СПАСИБО РОДНАЯ - CÁM ƠN EM YÊU DẤU

Bài hát СПАСИБО РОДНАЯ -CÁM ƠN EM YÊU DẤU do ca sĩ Mikhain Boyarski trình bày với chất giọng khàn khàn dễ thương đã đi sâu vào trong tâm trí biết bao người yêu ca nhạc của Liên xô trước đây và cũng như nước Nga ngày nay. Anh nổi tiếng với nhân vật chính trong bộ phim : Ba chàng ngự lâm pháo thủ- Dartanian của Liên Xô trước đây, vừa đóng phim vừa hát rất tình cảm.
Bài hát rất tình cảm, tỏ lòng biết ơn của người chồng với người vợ thân yêu của mình, người đã gian nan vất vả chịu đựng bao sóng gió của cuộc đời, vẫn giữ gìn được một thế giới bé nhỏ vô cùng quan trọng của mình- đó chính là gia đình hạnh phúc. Nơi mà nàng đã sinh con trai, con gái cho chàng và nuôi dạy chúng nên người, để rồi sau nhữngngày làm việc mệt nhọc chàng lại âu yếm bên nàng như xua tan đi hết phiền muộn cuộc đời, đưa nàng về bên giấc ngủ dịu êm. Rồi thời gian như vòng đời luân chuyển, con cái lớn lên trưởng thành, xây dựng gia đình, chàng như hình dung thấy con gái mình cũng lại đứng bên nôi cất tiếng hát ru như mẹ chúng thuở nào…
Mỗi gia đình là một tế bào của xã hội, hãy cùng nhau xây dựng gia đình mình hạnh phúc, cho dù cuộc sống của chúng ta còn nhiều mặt vật chất còn rất hạn chế, nhưng hãy yêu thương chung thủy với chồng cùng giữ gìn gia đình hạnh phúc. Điều đó nghe nói thật đơn giản, nhưng thực tình đâu có dễ, biết bao người đã bị tiền tài vật chất cám dỗ đã bị sa ngã, làm tan cửa nát nhà, tự mình đánh mất mình, làm mất danh dự của bản thân. Có thể tha thứ cho chuyện đó được không? Nói thì dễ nhưng có bao giờ quên nhỉ? Mong rằng chị em hãy giữ những gì mình đang có trong tay, nó là của mình, đừng nên mơ mộng viển vông để rồi xôi hỏng bỏng không. Chúc tất cả các chị em phụ nữ luôn giữ được hạnh phúc cho chính mình!


 СПАСИБО РОДНАЯ  - CÁM ƠN EM YÊU DẤU “МИХАИЛ БОЯРСКИЙ”



Сладкий сон погасил
Глаз ласковых пламя,
Тихо губы твои
Чуть трону губами я.
А на губах твоих
Усталый день затих,
Ты сладко спишь,
А я шепчу тебе, родная…
Giấc mơ ngọt ngào vừa thổi tắt
Ngọn lửa từ đôi mắt mến yêu,
Trên môi em âm thầm lặng lẽ
Anh khẽ hôn nhè nhẹ em ơi.
Để anh cảm thấy trên làn môi
Ngày mệt mỏi vội mau tan biến,
Em về trong giấc mơ trìu mến,
Anh thì thầm bên tai, dấu yêu…
Спасибо за день,
Спасибо за ночь,
Спасибо за сына
И за дочь.
Спасибо за то,
Что средь боли и зла
Наш тесный мирок
Ты сберегла.
М-м Ты сберегла.
Xin cám ơn một ngày,
Xin cảm tạ một đêm,
Cám ơn sinh con trai
Và sinh thêm con gái.
Xin cám ơn tất cả,
Trong đau đớn dối lừa
Em vẫn luôn gìn giữ
Thế giới của chúng mình
Một gia đình đầm ấm.
Время свито в кольцо,
И дочь наша, верю,
Так же склонит лицо,
Как над колыбелью ты.
И кто-то в свой черёд
Ей тихо пропоёт.
Ты сладко спишь,
А я шепчу тебе, родная…
Thời gian đã cuộn lại thành vòng,
Con gái ta lớn lên anh biết,
Cũng lại nghiêng khuôn mặt dấu yêu
Như em đứng bên nôi thuở trước
Khẽ cất lên tiếng hát ơi à
Ru đứa con bé bỏng yêu thương.
Em về trong giấc mơ trìu mến,
Anh thì thầm bên tai, dấu yêu…
Спасибо за день,
Спасибо за ночь,
Спасибо за сына
И за дочь.
Спасибо за то,
Что средь боли и зла
Наш тесный мирок
Ты сберегла.
М-м Ты сберегла.
Xin cám ơn một ngày,
Xin cảm tạ một đêm,
Cám ơn sinh con trai
Và sinh thêm con gái.
Xin cám ơn tất cả,
Trong đau đớn dối lừa
Em vẫn luôn gìn giữ
Thế giới của chúng mình
Một gia đình đầm ấm.
Вы мои плоть и кровь
Так счастливо спите,
Если видит Господь,
Пусть будет защитой вам.
И больше, может быть,
Мне не о чем молить.
Ты сладко спишь,
А я шепчу тебе, родная.
Em và con máu thịt của anh
Hãy bình yên ngủ đi em nhé,
Nếu trong mơ có nhìn thấy Chúa,
Hãy để Người che chở chúng ta.
Và khi đó chắc em sẽ hiểu,
Chẳng có chi anh phải nguyện cầu.
Em êm ái chìm trong giấc ngủ,
Anh thì thầm bên tai, dấu yêu…
Спасибо за день,
Спасибо за ночь,
Спасибо за сына
И за дочь.
Спасибо за то,
Что средь боли и зла
Наш тесный мирок
Ты сберегла.
М-м Ты сберегла.
Xin cám ơn một ngày,
Xin cảm tạ một đêm,
Cám ơn sinh con trai
Và sinh thêm con gái.
Xin cám ơn tất cả,
Trong đau đớn dối lừa
Em vẫn luôn gìn giữ
Thế giới của chúng mình
Một gia đình đầm ấm.
И больше, может быть,
Мне не о чем молить.
Ты сладко спишь,
А я шепчу тебе, родная.
Và khi đó chắc em sẽ hiểu,
Chẳng bao giờ anh phải nguyện cầu.
Em êm ái chìm trong giấc ngủ,
Anh thì thầm bên tai, dấu yêu…


TP.Hồ Chí Minh 24.03.2010
Minh Nguyệt dịch





УЧКУДУК - ТРИ КОЛОДЦА – UCHKUDUK – BA CÁI GIẾNG “ЯЛЛА”

Vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước khi được nghe ban nhạcYALLAtrình bày bài hát về sa mạc của miền trung Á  - Liên xô, nghe những tiếng trống, tiếng đàn ngân tha thiết như những người đi trong sa mạc trên cát nóng cháy, miệng khát khô tới cổ họng thèm một hớp nước cho dịu cơn khát. Nhớ lại vùng Tashken là thủ phủ của nước cộng hòa Uzơbekistan, là nơi mùa hè nắng nóng thường xuyên trên 40 độ kèm theo bão cát. Tôi nghe các bạn đã từng sống và học tập ở đó nói rằng, lúc nào trong phòng cũng phải bật quạt có kèm theo hệ thống phun sương. Vào mùa hè hay mùa đông khi các bạn sinh viên Việt nam từ Tashken được đi du lịch sang các thành phố thuộc châu Âu, thấy các bạn đen nhẻm đen nhèm, nhiều lúc cứ ngỡ từ Campuchia sang, nhưng khi nghe thấy nói tiếng Việt mới biết là người nước mình.
Cũng chính trong nước cộng hòa Uzơbekistan nơi có thành phố UCHKUDUC trở nên nổi tiếng nhờ có mỏ khoáng sản uranium và có trữ lượng vàng tương đối lớn. Lịch sử của Uchkuduc bắt đầu từ năm 1958, khi có một nhóm thăm dò địa chất nhỏ phát hiện ra nơi có quặng uranium Uchkuduc, sau đó tới tận năm 1978 mới xây dựng các xóm kiểu đô thị, thuộc vùng Bukhaski. Từ năm 1978 bắt đầu được đổi tên là thành phố của vùng Bukharski và cho đến tận 20 tháng 4 năm 1982, từ một phần của vùng Bukharski đã lập ra vùng Navoiski. Trước năm 1979 nơi đây có trong danh sách công trình chiến lược bí mật khép kín. Vào cuối những năm 1960, nhờ sự tăng trưởng mạnh khối lượng khai thác quặng uranium nhờ áp dụng phương pháp lộ thiên và đường ngầm và sau đó chủ yếu là phương pháp khử kiềm dưới mặt đất, thành phố bắt đầu phát triển mạnh mẽ, có nhiều đoàn người đến định cư làm việc lâu dài tại đây họ gồm những thợ mỏ, các chuyên gia kỹ thuật – cơ khí tốt nhất của cả Liên xô.

Từ năm 1958 trong thành phố có khu liên hợp sản xuất quặng – luyện kim Navoiski, phần lớn những người dân nơi đây đều là công nhân trong liên hợp. Từ năm 2001 tại Uzơbekkistan bắt đầu đưa vào hoạt động đường sắt Uchkuduc -2 tới Miskin. Từ 2002 tại thành phố Uchkuduc tiến hành xây dựng khu công nghiệp khai thác quặng vàng, theo thiết kế thì lượng vàng sản xuất của nhà máy sẽ đạt khoảng 20 tấn một năm. Mỗi khi nghe lại bài hát này, tôi cảm thấy như mình đang đi trong giữa sa mạc nắng cháy, nghe như có cả tiếng gầm gừ khô khốc của những con rắn độc đâu đây. Xin gửi tới các bạn bài hát “УЧКУДУК - ТРИ КОЛОДЦА – UCHKUDUK – BA CÁI GIẾNG” do ban nhạc YALLA trình bày.


УЧКУДУК - ТРИ КОЛОДЦА – UCHKUDUK – BA CÁI GIẾNG
Музыка: Фарух Закиров - Слова: Юрий Энтин

Горячее солнце. Горячий песок
Горячие губы, воды бы глоток
В горячей пустыне не видно следа
Скажи, караванщик, когда же вода?
Учкудук - три колодца
Защити, защити нас от солнца.
Ты в пустыне - спасительный круг, Учкудук.
Учкудук - три колодца
Защити, защити нас от солнца.
Ты в пустыне - спасительный круг, Учкудук.
Mặt trời nắng chói chang, cát cháy bỏng
Đôi môi nóng khô thèm một ngụm nước
Trong sa mạc nóng bỏng chẳng hề có dấu vết
Hỡi bác lái xe ơi, bao giờ thì có nước?
Uchkuduk – là ba chiếc giếng khơi
Hãy bảo vệ chúng tôi khỏi ánh nắng mặt trời.
Uchkuduc - người là chiếc phao cứu sinh giữa sa mạc.
Uchkuduk – là ba chiếc giếng khơi
Hãy bảo vệ chúng tôi khỏi ánh nắng mặt trời.
Uchkuduc - người là chiếc phao cứu sinh giữa sa mạc.

Вдруг дерево жизни таинственный страж
А может быть это, лишь только мираж
А может быть это, усталости бред
И нет Учкудука, спасения нет.
Учкудук - три колодца
Защити, защити нас от солнца.
Ты в пустыне - спасительный круг, Учкудук.
Учкудук - три колодца
Защити, защити нас от солнца.
Ты в пустыне - спасительный круг, Учкудук.
Bỗng tự nhiên xuất hiện cây đời - người canh giữ bí ẩn
Cũng có thể điều này chỉ toàn là ảo ảnh
Cũng có thể chỉ vì hoang tưởng khi mệt mỏi
Nếu như không có giếng, tìm lối thoát nơi đâu
Uchkuduk – là ba chiếc giếng khơi
Hãy bảo vệ chúng tôi khỏi ánh nắng mặt trời.
Uchkuduc - người là chiếc phao cứu sinh giữa sa mạc.
Uchkuduk – là ba chiếc giếng khơi
Hãy bảo vệ chúng tôi khỏi ánh nắng mặt trời.
Uchkuduc - người là chiếc phao cứu sinh giữa sa mạc.

Любой в Учкудуке расскажет старик
Как город-красавец в пустыне возник
Как в синее небо взметнулись дома
И как удивилась природа сама.
Учкудук - три колодца
Пусть над ним, пусть над ним светит солнце
Ты в пустыне - спасительный круг, Учкудук.
Учкудук - три колодца
Пусть над ним, пусть над ним светит солнце
Ты в пустыне - спасительный круг, Учкудук.
Mọi cụ già ở nơi đây thường kể
Trên sa mạc hiện ra thành phố đẹp xinh
Trên trời xanh mọc lên những ngôi nhà
Điều kinh ngạc do thiên nhiên tự tạo ra
Uchkuduk – là ba chiếc giếng khơi
Mặc cho mặt trời chiếu sáng khắp muôn nơi
Uchkuduc - người là chiếc phao cứu sinh giữa sa mạc.
Uchkuduk – là ba chiếc giếng khơi
Mặc cho mặt trời chiếu sáng khắp muôn nơi
Uchkuduc - người là chiếc phao cứu sinh giữa sa mạc.

Учкудук - три колодца
Пусть над ним, пусть над ним, пусть над ним светит солнце
Ты в пустыне - спасительный круг, Учкудук.
Учкудук! Учкудук! Учкудук! Учкудук! Учкудук! Учкудук...
Uchkuduk – là ba chiếc giếng khơi
Mặc cho mặt trời chiếu sáng khắp muôn nơi
Uchkuduc - người là chiếc phao cứu sinh giữa sa mạc.
Uchkuduc! Uchkuduc! Uchkuduc! Uchkuduc! Uchkuduc…

TP. Hồ Chí Minh 20.12.2010
Minh Nguyệt dịch


КОМАРОВО – KOMAROVƠ

Một bài hát rất vui nhộn, thể hiện tinh thần dũng cảm của những người thanh niên sẵn sàng lên đường tới những miền biên giới hải đảo để xây dựng, phục vụ Tổ quốc. Những người thanh niên như thế trong thời đại hiện nay cũng vẫn có, chứ không phải là đã hết. Họ sống hết mình vì mọi người, hy sinh tuổi trẻ thanh xuân của mình vì sự nghiệp phát triển chung của toàn xã hội, giúp cho vùng sâu vùng xa phát triển xích lại gần hơn với các đô thị, thành phố lớn. Nhưng nhiều khi chính quyền chưa ưu đãi đúng mức với những người như vậy, cho nên cũng phần nào làm cho họ nản chí…Bài hát tôi được nghe lâu lắm rồi, chọn videoclip của ca sĩ khi còn trẻ để nghe giọng khỏe mạnh của thanh niên, còn những videoclip mới nghe không được thanh thót nữa.
КОМАРОВО – KOMAROVƠ “ИГОРЬ СКЛЯР”
слова М.Танича - музыка И.Hиколаева

На недельку до второго я уеду в Комарово
Поглядеть отвыкшим глазом на балтийскую волну
И на море буду разом кораблем и водолазом
Сам себя найду в пучине
Если часом затону
На недельку до второго я уеду в Комарово
Сам себя найду в пучине
Если часом затону
Tôi sẽ đi Komarovo khoảng một tuần cho tới mùng hai
Để ngắm nhìn say mê những con sóng biển Ban tích
Ở trên biển tôi vừa là con tàu cũng là thợ lặn
Nếu như một tiếng tôi lặn sâu
Sẽ tự thấy mình trong vực thẳm
Tôi sẽ đi Komarovo khoảng một tuần cho tới mùng hai
Nếu như một tiếng tôi lặn sâu
Sẽ tự thấy mình trong vực thẳm

На недельку до второго я уеду в Комарово
Где качается на дюнах
Шереметьевский баркас
И у вас в карельских скалах
На общественных началах
Если только захотите будет личный водолаз
На недельку до второго я уеду в Комарово
И у вас в карельских скалах будет личный водолаз
Tôi sẽ đi Komarovo khoảng một tuần cho tới mùng hai
Nơi có chiếc canô seremechev
Chao đảo lắc lư trong đụn cát
Chúng tôi bắt đầu những công việc xã hội
Ngay trong vách đá Karel của các anh
Nếu như các anh mà muốn, sẽ có ngay một thợ lặn riêng
Tôi sẽ đi Komarovo khoảng một tuần cho tới mùng hai
Ngay trong vách đá Karel của các anh, sẽ có ngay một thợ lặn riêng

На недельку до второго я уеду в Комарово
На воскресной электричке
К вам на краешек земли
Водолазы ищут клады только кладов мне не надо
Я за то чтоб в синем море не тонули корабли
На недельку до второго я уеду в Комарово
Я за то чтоб в синем море не тонули корабли
На недельку до второго я уеду в Комарово
Я за то чтоб в синем море не тонули корабли
Tôi sẽ đi Komarovo khoảng một tuần cho tới mùng hai
Ngồi trên tàu điện ngày chủ nhật
Tôi đến với anh tận miền đất xa xôi
Người thợ lặn thì đi tìm châu báu, nhưng với tôi châu báu chẳng cần
Tôi đến để cho những con tàu, không bị chìm đắm giữa biển xanh
Tôi sẽ đi Komarovo khoảng một tuần cho tới mùng hai
Tôi đến để cho những con tàu, không bị chìm đắm giữa biển xanh
Tôi sẽ đi Komarovo khoảng một tuần cho tới mùng hai
Tôi đến để cho những con tàu, không bị chìm đắm giữa biển xanh

TP. Hồ Chí Minh 20.12.2010
Minh Nguyệt dịch

 Bài hát do ca sĩ hát đầu tiên Igor Sklyar 1985



ВОЛОГДА – VOLOGDA “ПЕСНЯРЫ”

Một bài hát về tình yêu rất tha thiết về tình cảm của chàng trai mới yêu khi đi xa, nhớ về người bạn gái của mình với lòng nóng bỏng chờ mong. Thư đi biết bao lần mà chẳng hề nhận được lấy một chữ hồi âm, làm cho chàng càng sốt ruột hơn, chỉ còn cách duy nhất là tự chàng đến với thành phố nơi có nàng đang sống để mà nhận thư trả lời. Trong bài hát cũng có từ cô gái có đôi mắt huyền, có lẽ mọi người có cảm tình nhiều với những đôi mắt đen thì phải, mắt càng sâu càng chứa chất biết bao nỗi lòng thầm kín hay chăng. Xin gửi tới tất cả các bạn đang yêu bài hát này, chúc các bạn có tình yêu thật đẹp và thơ mộng như chuyện cổ tích nhé.

ВОЛОГДА – VOLOGDA “ПЕСНЯРЫ”
Музыка: Борис Мокроусов - Слова: Михаил Матусовский


Письма, письма лично на почту ношу.
Словно, я роман с продолженьем пишу.
Знаю, знаю точно, где мой адресат
В доме, где резной палисад.
Где же моя темноглазая, где?
В Вологде-где-где-где.
В Вологде-где.
В доме, где резной палисад,
Где же моя темноглазая, где?
В Вологде-где-где-где.
В Вологде-где.
В доме, где резной палисад.
Những lá thư tự tay tôi gửi ngoài bưu điện.
Như cuốn tiểu thuyết mà tôi đang viết tiếp.
Tôi biết rõ người nhận thư ở phương nào
Chính trong ngôi nhà có hàng rào trạm trổ.
Hỡi cô gái mắt huyền của tôi nơi đâu?
Nàng đang ở Vologda
Ôi Vologda, Vologda.
Trong ngôi nhà có hàng rào trạm trổ,
Hỡi cô gái mắt huyền của tôi nơi đâu?
Nàng đang ở Vologda
Ôi Vologda, Vologda.
Trong ngôi nhà có hàng rào trạm trổ.
Шлю, я шлю я ей за пакетом пакет.
Только, только нет мне ни слова в ответ
Значит, значит надо иметь ей в виду
Сам я за ответом приду,
Что б ни случилось я к милой приду
В Вологду-гду-гду-гду.
В Вологду-гду.
Сам я за ответом приду,
Что б ни случилось я к милой приду
В Вологду-гду-гду-гду.
В Вологду-гду.
Сам я за ответом приду.
Tôi gửi cho nàng những lá thư liên tiếp.
Chỉ có điều nàng không hề viết trả lời
Có nghĩa cần phải báo cho nàng biết
Rằng tự tôi về nhận thư thôi,
Dẫu có sao tôi vẫn đến với người yêu
Về với Vologda có em ở đó.
Tôi về với Vologda.
Tự tôi đến để nhận thư thôi.
Dẫu có sao tôi vẫn đến với người yêu
Về với Vologda có em ở đó.
Tôi về với Vologda.
Tự tôi đến để nhận thư thôi.
Вижу, вижу алые кисти рябин.
Вижу, вижу дом её номер один.
Вижу, вижу сад со скамьей у ворот
Город, где судьба меня ждёт.
Вот потому-то мила мне всегда
Вологда-гда-гда-гда.
Вологда-гда
Город, где судьба меня ждёт.
Вот потому-то мила мне всегда
Вологда-гда-гда-гда.
Вологда-гда
Город, где судьба меня ждёт.
Tôi đã thấy những chùm thanh lương đỏ thắm.
Ngôi nhà nàng mang biển số một cũng thấy luôn.
Kìa khu vườn có ghế băng ngay bên cổng
Đây là thành phố mà số phận đang chờ tôi.
Chính vì thế nơi đây với tôi luôn yêu dấu
Ôi Vologda thành phố đẹp tươi.
Vologda của ta ơi
Đây là thành phố mà số phận đang chờ tôi.
Chính vì thế nơi đây với tôi luôn yêu dấu
Ôi Vologda thành phố đẹp tươi.
Vologda của ta ơi
Đây là thành phố mà số phận đang chờ tôi.
Где же моя темноглазая, где?
В Вологде-где-где-где.
В Вологде-где.
В доме, где резной палисад,
Где же моя темноглазая, где?
В Вологде-где-где-где.
В Вологде-где.
В доме, где резной палисад.
Hỡi cô gái mắt huyền của tôi nơi đâu?
Nàng đang ở Vologda
Ôi Vologda, Vologda.
Trong ngôi nhà có hàng rào trạm trổ,
Hỡi cô gái mắt huyền của tôi nơi đâu?
Nàng đang ở Vologda
Ôi Vologda, Vologda.
Trong ngôi nhà có hàng rào trạm trổ.


TP. Hồ Chí Minh 14.12.2010
Minh Nguyệt dịch