Thứ Năm, 12 tháng 1, 2017

Я ПОМНЮ ЧУДНОЕ МГНОВЕНЬЕ...TÔI NHỚ MÃI PHÚT GIÂY HUYỀN DIỆU…

Tình cờ khi tìm bài hát tôi thấy có bài thơ của Alexandr Sergeyevich Puskin được phổ nhạc, đó là bài thơ đã được dịch giả Thúy Toàn dịch sang tiếng Việt rất hay mà nhiều người yêu thơ ở Việt nam đã thuộc lòng. Nhưng trong mạng tôi lại tìm thấy một bài tiếng Việt khác do dịch giả Bùi Huy Bằng dịch có đóng góp và cho rằng dịch giả Thúy Toàn sử dụng từ chưa phù hợp về thời gian và ý nghĩa của một số từ. Tôi cũng xin đăng cả hai lời dịch cho các bạn yêu thơ Puskin thưởng thức. Vì là người dốt văn thơ, chỉ biết dịch nội dung bài hát cho các bạn yêu thích tình ca Nga. Nhưng dẫu sao tôi vẫn thích bản dịch của Thúy Toàn hơn, ngay từ khổ thơ đầu đã thấy hay và đúng cả nội dung. Hơn nữa bản dịch của dịch giả Thúy Toàn còn thấy có chất thơ trong đó, còn bản dịch của Bùi Huy Bằng cũng chỉ khá hơn những bản dịch nội dung của minhhankiev thôi, chứ chất thơ không thể sánh với bản dịch của Thúy Toàn.

Я ПОМНЮ ЧУДНОЕ МГНОВЕНЬЕ...TÔI NHỚ MÃI PHÚT GIÂY HUYỀN DIỆU…
Alexander Sergeyevich Pushkin
GỬI K… (*)



Я помню чудное мгновенье:
Передо мной явилась ты,
Как мимолетное виденье,
Как гений чистой красоты.
Anh nhớ mãi phút giây huyền diệu:
Trước mắt anh em bỗng hiện lên,
Như hư ảnh mong manh vụt biến,
Như thiên thần sắc đẹp trắng trong.
В томленьях грусти безнадежной
В тревогах шумной суеты,
Звучал мне долго голос нежный
И снились милые черты.
Giữa day dứt sầu đau tuyệt vọng,
Giữa ồn ào xáo động buồn lo,
Tiếng em nói bên tai anh văng vẳng,
Bóng dáng em anh gặp lại trong mơ.
Шли годы. Бурь порыв мятежный
Рассеял прежние мечты,
И я забыл твой голос нежный,
Твой небесные черты.
Tháng ngày qua. Những cơn gió bụi
Đã
xua tan mộng đẹp tuổi thơ,
Lãng quên rồi giọng nói em hiền dịu,
Nhoà tan rồi bóng dáng nguy nga.
В глуши, во мраке заточенья
Тянулись тихо дни мои
Без божества, без вдохновенья,
Без слез, без жизни, без любви.
Giữa cô quạnh âm u tù hãm
Dòng đời trôi quằn quại hắt hiu,
Chẳng thiên thần, chẳng nguồn cảm xúc,
Chẳng đời, chẳng lệ, chẳng tình yêu.
Душе настало пробужденье:
И вот опять явилась ты,
Как мимолетное виденье,
Как гений чистой красоты.
Cả hồn anh bỗng dưng tỉnh giấc:
Trước mắt anh em lại hiện lên,
Như hư ảo mong manh vụt biến,
Như thiên thần sắc đẹp trắng trong.
И сердце бьется в упоенье,
И для него воскресли вновь
И божество, и вдохновенье,
И жизнь, и слезы, и любовь.
1825
Trái tim lại rộn ràng náo nức,
Và trái tim sống dậy đ điều
Cả thiên thần, cả nguồn cảm xúc,
Cả đời, cả lệ, cả tình yêu.
Dịch giả: Thuý Toàn


 
 
Я ПОМНЮ ЧУДНОЕ МГНОВЕНЬЕ...TÔI NHỚ MÃI LÁT GIÂY KỲ DIỆU

GỬI K. (*)
A. X. Puskin

Я помню чудное мгновенье:
Передо мной явилась ты,
Как мимолетное виденье,
Как гений чистой красоты.
Tôi vẫn nhớ lát giây kỳ diệu:
Phía trước tôi em đã hiện ra,
Như bóng dáng nàng tiên chợt đến,
Như thiên thần sắc đẹp tinh hoa.
В томленьях грусти безнадежной
В тревогах шумной суеты,
Звучал мне долго голос нежный
И снились милые черты.
Giữa day dứt sầu đau tuyệt vọng
Trong xao động tất bật ồn ào,
Đã vang mãi trong tôi giọng dịu ngọt
Và dáng hình thân thuộc hiện chiêm bao.
Шли годы. Бурь порыв мятежный
Рассеял прежние мечты,
И я забыл твой голос нежный,
Твой небесные черты.
Nhiều năm qua đi. Cuồng phong thịnh nộ
Đã xua tan những mong ước thuở nào,
Và tôi đã quên giọng em dịu ngọt,
Cả dáng hình thật tuyệt diệu thanh tao.
В глуши, во мраке заточенья
Тянулись тихо дни мои
Без божества, без вдохновенья,
Без слез, без жизни, без любви.
Trong cô đơn, trong tối tăm tù túng
Những ngày dài lưu biệt lặng lẽ trôi
Chẳng còn đức tin, chẳng còn cảm hứng,
Chẳng lệ, chẳng tình yêu, chẳng cuộc đời.
Душе настало пробужденье:
И вот опять явилась ты,
Как мимолетное виденье,
Как гений чистой красоты.
Được đánh thức tâm hồn đã sống dậy:
Bởi khi ấy em đã lại hiện ra,
Như bóng dáng của nàng tiên chợt đến,
Như thiên thần của sắc đẹp tinh hoa.
И сердце бьется в упоенье,
И для него воскресли вновь
И божество, и вдохновенье,
И жизнь, и слезы, и любовь.
1825
Rồi con tim đập say mê thổn thức,
Bởi hồi sinh trong ký ức khôn nguôi
Nào là đức tin, nào là cảm hứng,
Nào lệ, nào tình yêu, nào cuộc đời.
Bùi Huy Bằng dịch 02/2011
(*) – Kern Anna Pet’rovna

Сергей Ерошин





Thứ Sáu, 9 tháng 12, 2016

СТАРИННЫЕ ЧАСЫ - CHIẾC ĐỒNG HỒ CỔ - “ALLA PUGACHEVA”

Bài hát “Chiếc đồng hồ cổ” sáng tác của nhạc sĩ Raimond Pauls, do ca sĩ Alla Pugacheva trình bày, là một trong những bài hát nổi tiếng được nhiều người Việt Nam biết đến. Nhưng có lẽ chưa có ai dịch sang tiếng Việt, tôi xin giới thiệu bài hát và lược dịch nội dung cho mọi người cùng hiểu.
 СТАРИННЫЕ ЧАСЫ - CHIẾC ĐỒNG HỒ CỔ “АЛЛА ПУГАЧЕВА”
Mузыкa: Паулс Раймонд - Cловa: Резник Илья -1981


Старинные часы еще идут
Старинные часы свидетели и судьи
Когда ты в дом входил они слагали гимны
Звоня тебе во все колокола
Chiếc đồng hồ cổ vẫn đang còn chạy
Như thẩm phán và nhân chứng cuộc đời tôi.
Mỗi khi anh bước chân vào cửa, rộn ràng bản tình ca
Gọi vang lên nghe réo rắt tâm hồn.
Когда ты не сумел меня понять
Я думала замрут все звуки во Вселенной
Но шли мои часы торжественно печально
Я слышала их поминальный звон
Khi anh chẳng muốn hiểu về em
Thì vũ trụ đây như đều câm lặng
Đ
ồng hồ chạy âm thầm và buồn bã,
Tiếng chuông ngân, như gợi tháng ngày xưa.

Жизнь невозможно повернуть назад.
И время ни на миг не остановишь...
Пусть неоглядна ночь и одинок мой дом,
Еще идут старинные часы.
Cuộc sống không thể quay trở lại.
Và thời gian không giây phút ngừng trôi…
Mặc cho đêm buồn cùng ngôi nhà hưu quạnh,
Đồng hồ vẫn chạy chẳng nghỉ ngơi.

Когда ты уходил такой чужой
Амуры на часах сломали лук и стрелы
Часы остановить тогда я не сумела
Как не смогла остановить тебя
Khi anh trở thành người xa lạ
Thần ái tình đã bẻ gãy cung tên
Muốn dừng lại thời gian mà em không thể
Như không ngăn được bước chân anh.

Жизнь невозможно повернуть назад.
И время ни на миг не остановишь...
Пусть неоглядна ночь и одинок мой дом,
Еще идут старинные часы.
Cuộc sống không thể quay trở lại.
Và thời gian không giây phút ngừng trôi…
Mặc cho đêm buồn cùng ngôi nhà hưu quạnh,
Đồng hồ vẫn chạy chẳng nghỉ ngơi.

Старинные часы еще идут
Старинные часы свидетели и судьи
Когда ты в дом входил они слагали гимны
Звоня тебе во все колокола
Старинные часы еще идут
Cтаринные часы еще идут
Еще идут еще идут
Chiếc đồng hồ cổ vẫn đang còn chạy
Như thẩm phán và nhân chứng cuộc đời tôi.
Mỗi khi anh bước chân vào cửa, rộn ràng bản tình ca
Gọi vang lên nghe réo rắt tâm hồn.
Chiếc đồng hồ cổ vẫn đang còn chạy
Chiếc đồng hồ cổ vẫn đang còn chạy
Vẫn còn đang chạy.

TP. Hồ Chí Minh 16.11.2009
Minh Nguyệt dịch






ПОЗДНО - MUỘN RỒI - АЛЛА ПУГАЧЁВА И ВАЛЕРИЙ ЛЕОНТЬЕВ

Bài hát MUỘN RỒI sáng tác của Kirkorov Filip- là chồng cũ của Alla Pugacheva, là một bài hát do Alla Pugacheva và Valery Leontiev thể hiện rất thành công qua nhiều thập kỷ, từ khi Alla còn rất trẻ và cho tới nay đã tuổi 60 rồi. Thật cảm kích trong ngày sinh nhật của mình Alla Pugacheva và Valery Leontiev cùng ngồi trên xe lăn ra biểu diễn.
Nói chung trên thế gian này mỗi người một hoàn cảnh, một cuộc sống khác nhau, với nhiều người may mắn tình yêu sớm đơm hoa kết trái ở tuổi xuân thì, còn với nhiều người còn chờ còn đợi, nên khi lo lắng cho sự nghiệp khi ngoảnh lại thì đã thấy muộn mất rồi…Ước vọng của mỗi người về một mái ấm gia đình là chính đáng, tuy rằng rất bình thường, nhưng nhiều khi cũng lại rất khó khăn. Dù sao muộn vẫn còn là may mắn, là hạnh phúc, còn hơn suốt cuộc đời chẳng gặp lấy một lần.


“Cho dù đã muộn em ơi,
Còn hơn suốt cả cuộc đời cô đơn!
Mình cùng xây dựng giang sơn
Những năm tháng đẹp như tiên lại về!”
  …Bao giông tố đời ta đã lặng,
Còn niềm hy vọng đã nở hoa,
Thật tốt đẹp tuy rằng có muộn
Anh với em cùng ôm chặt vòng tay!

 Chúc cho tất cả các bạn trong blog đang còn đi tìm một nửa của mình sẽ may mắn và
thành công. 
  

ПОЗДНО- MUỘN RỒI “АЛЛА ПУГАЧЁВА И ВАЛЕРИЙ ЛЕОНТЬЕВ”
Киркоров Филип

Мы встретились с тобой поздно.
Не те уже над нами звезды,
Мы усталы и серьезны,
Не скрываем грустных глаз,
Грустных глаз.
И все же хорошо, что поздно
Одна судьба связала нас.

Chúng ta gặp nhau đã muộn rồi.
Kìa bầu trời cao đã có bao vì sao,
Mình mệt mỏi và chín chắn hơn lên.
Chẳng dấu nổi đôi mắt buồn vời vợi,
Bao năm rồi như vẫn còn chờ đợi.
Dù có muộn vẫn còn là may mắn
Số phận này đã gắn kết đôi ta.

А-а, лучше поздно, чем никогда!
А-а, лучше поздно, чем никогда!
Быть может, нам с тобой достались
Лучшие года, да-да, да-да!

Cho dù đã muộn em ơi,
Còn hơn suốt cả cuộc đời cô đơn!
Mình cùng xây dựng giang sơn
Những năm tháng đẹp như tiên lại về!

Поздно,
Дожди рекою стали поздно,
Давно вернулись стаи в гнезда,
Нам с тобой совсем непросто,
От былого не уйти,
Не уйти.
И даже хорошо, что поздно
Мы встретились с тобой в пути.

 

Mưa chảy thành sông đã muộn rồi,
Từng bầy chim trở về xây tổ ấm,
Anh với em đâu phải dễ dàng gì,
Vượt quá khứ chớ hề lùi bước.
Vẫn còn tốt cho dù có muộn
Anh cùng em đã chung một con đường.

Поздно,
Теперь нам расставаться поздно.
Молвы глухой бояться поздно,
Отгремели наши грозы,
И надежда расцвела,
Расцвела.
И очень хорошо, что поздно
В твоей руке - моя рука!

 

Giờ chia tay cũng đã muộn rồi.
Lời nguyện thầm e rằng đã muộn,
Bao giông tố đời ta đã lặng,
Còn niềm hy vọng đã nở hoa,
Thật tốt đẹp tuy rằng có muộn
Anh với em cùng ôm chặt vòng tay!


TP. Hồ Chí Minh 02.03.2010
Minh Nguyệt dịch  

 

   Alla Pugacheva và Valery Leontiev khi còn trẻ.

 


 

Thứ Ba, 6 tháng 12, 2016

ДИАЛОГ У НОВОГОДНЕЙ ЁЛКИ- TÂM TÌNH BÊN CÂY THÔNG NÔEL


Bài hát “TÂM TÌNH BÊN CÂY THÔNG NÔEL” được trình diễn vào dịp năm mới rất vui nhộn do ca sĩ Valentina Tolkunova cùng Leonid Serebrenikov trình bày, được bình chọn là bài hát của năm 1980, đã lâu lắm rồi. Cho đến nay bài hát này vẫn còn được nhiều ca sĩ thể hiện nhân dịp đầu năm mới.

ДИАЛОГ У НОВОГОДНЕЙ ЁЛКИ- TÂM TÌNH BÊN CÂY THÔNG NÔEL ВАЛЕНТИНА ТОЛКУНОВА-ЛЕОНИД СЕРЕБРЕННИКОВ

Музыка: Эдуард Колмановский - Слова: Юрий Левитанский

- Что происходит на свете? - А просто зима.
- Просто зима, полагаете вы? - Полагаю.
Я ведь и сам, как умею, следы пролагаю
Я ведь и сам, как умею, следы пролагаю
В ваши уснувшие ранней порою дома.
-
Điều gì đang xảy ra trên thế gian này? Chỉ là một mùa đông.
- Chỉ là một mùa đông, anh nghĩ như thế sao? - Anh nghĩ thế.
Chính anh biết làm và tạo ra những dấu vết
Chính anh biết làm và tạo ra những dấu vết
Vào những mái nhà đôi khi ngủ sớm của em.
- Что же за всем этим будет? - А будет январь.
- Будет январь, вы считаете? - Да, я считаю.
Я ведь давно эту белую книгу читаю,
Я ведь давно эту белую книгу читаю,
Этот, с картинками вьюги, старинный букварь.
-
Sau tất cả những điều này điều gì sẽ đến? - Sẽ là tháng giêng.
- Sẽ là tháng giêng, anh nghĩ vậy sao? - Đúng, anh nghĩ vậy.
Chính tôi đã từ lâu đọc cuốn sách trắng này,
Chính tôi đã từ lâu đọc cuốn sách trắng này,
Có những bức tranh bão tuyết, với chữ cái cổ xưa.

- Чем же всё это окончится? - Будет апрель.
- Будет апрель, вы уверены? - Да, я уверен.
Я уже слышал. - И слух этот вами проверен?
- Я уже слышал, и слух этот мною проверен,
Будто бы в роще сегодня звенела свирель.
-
Tất cả những điều đó khi nào kết thúc?- Sẽ là tháng tư.
- Sẽ là tháng tư, anh chắc chắn vậy sao? - Đúng, anh tin vậy.
Anh đã nghe thấy. - Lời nói này anh trải nghiệm rồi sao?
- Anh đã nghe thấy. - Lời nói này đã được anh trải nghiệm,
Cứ ngỡ hôm nay trong rừng có tiếng sáo véo von.

- Что же из этого следует? - Следует жить!
Шить сарафаны и лёгкие платья из ситца.
- Вы полагаете, всё это будет носиться?
Вы полагаете, всё это будет носиться?
- Я полагаю, что всё это следует шить!

- Và như vậy cần phải làm gì nhỉ? - Cần phải sống!
Cần may chiếc áo dài và váy mỏng bằng vải in hoa.
- Anh có cho rằng, mọi thứ đó sẽ mặc được hay chăng?
Anh có cho rằng, mọi thứ đó sẽ mặc được hay chăng?
- Anh nghĩ rằng tất cả mọi thứ cần phải đem may hết!

Следует шить, ибо сколько зиме ни кружить,
Недолговечны её кабала и опала.
Так разрешите же в честь новогоднего бала
Так разрешите же в честь новогоднего бала
Руку на танец, сударыня, вам предложить.
Cần phải may, vì mùa đông luôn bị bao quanh,
Bởi ách nô dịch và bỏ rơi ngắn ngủi.
Hãy cho phép chào mừng vũ hội năm mới
Hãy cho phép chào mừng vũ hội năm mới
Xin phép mời quý bà chìa tay ra khiêu vũ.

- Месяц серебряный шар со свечою внутри,
И карнавальные маски по кругу, по кругу.
Вальс начинается. - Дайте ж, сударыня, руку.
Вальс начинается. Дайте ж, сударыня, руку.
+ И раз-два-три, раз-два-три, раз-два-три, раз-два-три!
Раз-два-три, раз-два-три, раз-два-три, раз-два-три!
Раз-два-три, раз-два-три, раз-два-три, раз-два-три!

- Trăng như trái cầu bạc có ngọn nến bên trong,
Những mặt nạ hoá trang nhảy theo vòng tròn.
Điệu vals đã bắt đầu rồi.

 Xin quý bà hãy đưa tay.
Điệu vals đã bắt đầu rồi. Xin quý bà hãy đưa tay.
+ Và rồi một- hai- ba, một- hai- ba, một- hai- ba!
Một- hai- ba, một- hai- ba, một- hai- ba!
Một- hai- ba, một- hai- ba, một- hai- ba!

TP. Hồ Chí Minh 26.05.2011
Minh Nguyệt dịch 






Thứ Sáu, 25 tháng 11, 2016

В ЛЕСУ РОДИЛАСЬ ЕЛОЧКА- CÂY THÔNG SINH RA TRONG RỪNG


Nhân dịp lễ Giáng sinh, xin gửi tới các bạn một bài hát Nga dành cho trẻ thơ, để chúng ta hiểu được phần nào không khí náo nức của tất cả mọi người, nhất là trẻ em quây quần đùa vui bên cây thông Noel trong ngày Giáng sinh về tại châu Âu.

В ЛЕСУ РОДИЛАСЬ ЕЛОЧКА- CÂY THÔNG SINH RA TRONG RỪNG
Слов: Кудашева Р. - Музыка: Бекман Л.

В лесу родилась елочка,
В лесу она росла,
Зимой и летом стройная, зеленая была.
Зимой и летом стройная, зеленая была.
Một cây thông nhỏ sinh ra trong rừng,
Ở trong rừng nó đã lớn lên,
Mùa đông hay mùa hè cây vẫn đứng thẳng, lá mọc xanh tươi.
Mùa đông hay mùa hè cây vẫn đứng thẳng, lá mọc xanh tươi.

Метель ей пела песенку:
"Спи, елочка, бай-бай!"
Мороз снежком укутывал:
"Смотри, не замерзай!"
Мороз снежком укутывал
"Смотри, не замерзай!"
Bão tuyết hát cho thông nghe bài ca:
“Nào thông ơi ngủ đi, ầu ơi!”
Giá rét choàng bằng những bông tuyết:
“Hãy coi chừng, đừng để đóng băng!”
Giá rét choàng bằng những bông tuyết:
“Hãy coi chừng, đừng để đóng băng!”

Трусишка зайка серенький
Под елочкой скакал.
Порою волк, сердитый волк, рысцою пробегал.
Порою волк, сердитый волк, рысцою пробегал.
Chú thỏ nhát gan lông màu xám
Đang nhảy múa bên dưới gốc thông.
Đôi khi chó sói, tức giận, vội chạy thoăn thoắt cho mau.
Đôi khi chó sói, tức giận, vộ chạy thoăn thoắt cho mau.

Чу! Снег по лесу частому
Под полозом скрипит;
Лошадка мохноногая торопится, бежит.
Лошадка мохноногая торопится, бежит.
Tuyết thường phủ kín cả rừng
Dưới xe trượt vẫn kêu cót két;
Chú ngựa đầy lông chân vội vã chạy nhanh.
Chú ngựa đầy lông chân vội vã chạy nhanh.

Везет лошадка дровеньки,
А в дровнях мужичок,
Срубил он нашу елочку под самый корешок.
Срубил он нашу елочку под самый корешок.
Ngựa đang chở những cành củi nhỏ,
Còn trên đống củi là người nông dân,
Ông đã chặt cây thông của chúng tôi ngay sát gốc.
Ông đã chặt cây thông của chúng tôi ngay sát gốc.

И вот она, нарядная,
На праздник к нам пришла,
И много, много радости детишкам принесла.
И много, много радости детишкам принесла.
Và kìa cây thông được trang hoàng,
Đã đến với chúng tôi vào ngày lễ,
Và mang đến thật nhiều niềm vui cho trẻ thơ.
Và mang đến thật nhiều niềm vui cho trẻ thơ.

TP. Hồ Chí Minh 19.12.2011
Minh Nguyệt dịch.

В лесу родилась ёлочка 



В ЛЕСУ РОДИЛАСЬ ЁЛОЧКА - Марина Девятова  

 "В лесу родилась Елочка" -